Blogger Widgets

Cà phê Colombia


Liên đoàn Nông Dân trồng cà phê Quốc Gia (FNC): Được thành lập từ năm 1927 vì sự phồn thịnh của nông dân trông cà phê Colombia  FNC bao gồm gần như toàn bộ những người trồng cà phê Colombia (cafeteros), với số lượng trên 500.000 thành viên.
Bằng việc gia nhập hiệp hội – một tổ chức lớn duy nhất – những người nông dân sẽ được hưởng nhiều quyền lợi và tăng thêm sức mạnh của mình. Điều này đặc biệt quan trọng vì hiện nay quy mô trung bình của một trang trại cá nhân ở Colombia vào khoảng 2 ha. Mục đích thành lập Liên đoàn là vì lợi ích của tất cả nông dân trồng cà phê.
Mọi quyền lợi đều vì nông dân trồng cà phê và cộng đồng. Một đóng góp trực tiếp và quan trọng nữa của Liên đoàn là ngày nay cà phê Colombia được bán trên thị trường thế giới với giá tương đối cao, góp phần mang lại cuộc sống khấm khá hơn cho các thành viên trong hiệp hội.
FCN đại diện cho các thành viên trong thương mại cà phê và hết sức thành công. Điều này đã được kiểm chứng từ hơn 70 năm qua.
Đảm bảo giá: bước đệm giúp nông dân chống lại những biến động bất thường và khó lường của thị trường cà phê quốc tế. Tham gia hiệp hội, những người nông dân được đảm bảo có thu nhập đầy đủ và ổn định.
Khoản doanh thu tăng thêm khi giá trên thị trường thế giới tăng cao sẽ được để giành cho việc duy trì mức giá tối thiểu đề phòng lúc tình hình giá trên thị trường thế giới giảm sút. Ví dụ trong những năm đầu thập niên 90, với cơ chế này nông dân trồng cà phê Colombia đã được bù đắp 1,5 tỷ đô la thua lỗ.
thương hiệu cà phê  Thương hiệu cà phê Colombia
Tham gia Liên đoàn, nông dân được trả tiền trực tiếp và điều quan trọng là Liên đoàn luôn luôn mua cà phê của các thành viên. Tuy nhiên, người nông dân không bắt buộc phải bán cà phê cho Liên đoàn, bởi vì FCN không phải là một tổ chức độc quyền thương mại. Thực tế, có đến hơn 50 công ty xuất  khẩu tư nhân và hơn 40 hợp tác xã tham gia vào các hoạt động kinh doanh cà phê ở Colombia.

Đầu tư trong cộng đồng

Việc đầu tư nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng – như xây dựng các rường học, đường sá và các trung tâm y tế- là một cách chuyển lợi ích từ FNC sang cộng đồng, có tác dụng  nâng cao chất lượng cuộc sống cho hàng triệu con người.
Chất lượng: Chất lượng cao, ổn định là nhân tố quyết định sống còn nhằm đảm bảo sự nổi tiếng của cà phê Colômbia trên toàn thế giới, bởi vậy mới đảm được thu nhập cao cho người trồng cà phê.
FNC có hơn 800 chuyên gia cố vấn nông nghiệp, sẵn sàng tham gia vào mọi hoạt động của tổ chức và hiện đang làm việc trong các trường đại học và cao đẳng nông nghiệp. Liên đoàn sở hữu một trong những trung tâm nghiên cứu và phát triển cà phê hàng đầu với hơn 100 nhà khoa học và hoá học.
Ngoài ra, còn nhiều các trang trại thử nghiệm khác. Phát triển và truyền bá rộng rãi các phương pháp sản xuất và gieo trồng sinh học là trọng tâm của chương trình nghiên cứu và phát triển.

Tăng thêm giá trị gia tăng cho Sản phẩm cà phê Colombia

FNC đã xây dựng một trong những nhà máy chế biến cà phê khô – lạnh lớn nhất thế giới tại Chinchino, vùng trồng cà phê lớn nhất của Colombia. Nhà máy đã tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn người, đem lại nhiều cơ hội kinh doanh và phổ biến các kinh nghiệm quản lý và kỹ thuật tiên tiến. Nhà máy này được FCN quản lý toàn diện chặt chẽ.
Đa dạng hoá cây trồng: Diễn biến thị trường cà phê thế giới những năm qua không lấy gì làm sáng sủa và với mục tiêu tăng năng suất FNC đã khuyến khích nông dân trong các khu vực trồng cà phê trồng thêm các loại cây khác nhằm tránh sự phụ thuộc quá mức vào cây cà phê. Đây chỉ là một ví dụ cho thấy tầm nhìn xa và những kế hoạch mang tính chiến lược thực tế của FCN.
Quảng bá thương hiệu cà phê colombia: FNC hiện sử dụng tất cả các phương tiện quảng cáo và marketing hiện đại nhằm nâng cao tên tuổi cà phê Colombia trên khắp thế giới. Những bước đi cẩn trọng giúp khách hàng nhận thức đúng đắn và am hiểu nhiều hơn đối với cà phê Colombia và vì vậy, tạo điều kiện thuận lợi để cà phê Colombia thâm nhập thị trường.

Một tổ chức dân chủ và công bằng

thương hiệu cà phê  Thương hiệu cà phê Colombia
70 năm thành công trong thương mại và kinh doanh hợp lý FNC:
  • Được tạo lập và điều hành bởi chính những người nông dân trồng cà phê – không chịu sự quản lý nào từ chính phủ hay các tổ chức quốc tế.
  • Là một tổ chức phi chính trị. Điều này tạo nên sự ổn định lớn
  • Hoạt động như một doanh nghiệp thương mại, nên trách nhiệm đè nặng lên vai các nhà quản lý và các nhân viên.
  • Không có sự độc quyền. Việc xuất hiện các nhà xuất khẩu cà phê khác ở Colombia chỉ là sự đảm bảo rằng Liên đoàn thực hiện những điều tốt nhất cho các thành viên.
  • Được xây dựng trên sự cân đối giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung – một cách thức để đem lại hiệu quả lớn nhất cho những người trồng cà phê.
FNC thật sự là một tổ chức dân chủ, hoàn toàn được lãnh đạo bởi những người trồng cà phê. Để đảm bảo tính dân chủ, tổ chức được thành lập theo cấu trúc 3 đại diện, dựa trên nguyên tắc bỏ phiếu giống như quốc hội lựa chọn các thành viên. Tất cả những người đại diện, ở các cấp độ đều là nông dân trồng cà phê.

Chiến lược quảng cáo

FNC được thành lập từ năm 1926, là một tổ chức kinh doanh độc lập, tập hợp những người trồng cà phê ở Colombia. Chỉ trong phạm vi lãnh thổ Colombia, liên đoàn đã cung cấp một mạng lưới giám định và kiểm soát chất lượng nhằm đảm bảo tiêu chuẩn cao nhất cho cà phê Colombia.
Trên khắp thế giới, các văn phòng của Liên đoàn ở khắp các quốc gia với các kênh thông tin đại chúng và giao thương hợp lý nhằm khuếch trương và thúc đẩy tiêu dùng cà phê Colombia.
Để tiếp thị, việc trước tiên là FCN để người tiêu dùng biết tại sao cà phê Colombia lại ngon hơn so với cà phê các nước khác, sau đó mới nói cho họ về các chương trình chăm sóc và lượng nhân công cần dùng để trồng và chăm sóc cây cà phê cũng như là các điều kiện khí hậu thuận lợi không dễ thấy ở các quốc gia khác.
Chiến dịch chiếm lĩnh thị trường mang tính giáo dục ban đầu bao gồm các hình ảnh trên vô tuyến cho thấy nông dân đang cẩn thận hái nhặt từng hạt cà phê chín trên các cánh đồng cà phê với người dẫn chương trình là Juan Valdez, người phát ngôn lâu nay của cà phê Colombia.
Những hình ảnh này giúp người tiêu dùng hiểu rằng, các hạt cà phê Colombia được trồng và hái  bởi những người rất chuyên nghiệp, không có hoặc có rất ít sự trợ giúp từ máy móc trong các điều kiên khí hậu tuyệt vời, nhiều mưa, nắng và đất phì nhiêu được tạo ra bởi các dòng nham thạch. Với ấn tượng trên, người tiêu dùng bị lôi cuốn bởi sự ưu việt của cà phê Colombia. Chiến dịch này bắt đầu từ đầu thập kỷ 60 và kéo dài cho đến những năm 80.
Phần lớn thói quen của những người tiêu dùng thập niên 80 quan tâm đến chất lượng nên   Colombia đã mở một chiến dịch nhằm vào phân đoạn thị trường này và để lại ấn tượng sâu rộng.
Đây cũng là mở đầu của chiến lược gây ấn tượng mà mục tiêu chính là tạo ra một hình ảnh đẹp đối với cà phê Colombia trong con mắt những người tiêu dùng cũng như là sự khác biệt so với cà phê các nước khác. Chiến dịch này tập trung minh hoạ những hình ảnh mang tính khôi hài và sành điệu với nhu cầu thượng hạng.
Các phương tiện như máy bay, tàu hoả, ô tô đều chuyển sang mua được cà phê từ Colombia. Và chiến dịch này đã dành được các giải thưởng uy tín của ngành bao gồm Effies, CLIO và ADDY, miêu tả sinh động cà phê Comlombia dưới ánh đèn lung tinh với những giải thưởng quý giá, càng làm cho thương hiệu thêm nổi  bật.
thương hiệu cà phê  Thương hiệu cà phê Colombia
Do vậy, người tiêu dùng sẵn sàng dùng Cà phê Colombia vì 2 lý do: Thứ nhất, họ hiểu rằng một sản phẩm chất lượng tốt đi cùng với hình ảnh đầy ấn tượng sẽ là lựa chọn số một. Thứ 2, chiến dịch này bắt đầu từ thập 80, cho đến nay vẫn không có nhiều sự thay đổi, dần thấm vào tiềm thức của người tiêu dùng. Ngày nay, để lôi kéo người tiêu dùng mua sản phẩm, họ cần phải biết mua ở đâu và mua như thế nào.
Cà phê Colombia không phải là một thương hiệu, Colombbia chỉ là một thuật ngữ chỉ xuất xứ của cà phê trong muôn vàn thương hiệu cà phê.  Phần lớn các thương hiệu cà phê là sản phẩm được trộn lẫn giữa cà phê Colombia với cà phê của các nước khác. Rất nhiều các nhà rang xay rất chú ý đến chất lượng cà phê, nên họ chọn hoàn toàn 100% cà phê COLOMBIA.
Với mục đích đảm bảo rằng thương hiệu này 100% là cà phê Colombia,  FNC đã thiết kế một biểu tượng trên đó thể hiện tấy cả các thương hiệu cà phê có nguồn gốc từ Colombia- Hình ảnh Juan Valdez và biểu tượng.
Tờ quảng cáo bìa được tạo ra cùng với logo được bố trí trông khá bắt mắt theo những cách độc đáo chẳng hạn như hình ảnh một con bò đang kêu “vừa đủ kem cho cà phê Colombia”, hay một câu đố vui, những hình ảnh về kim tự tháp Ai Cập hoặc hình ảnh một chiếc vợt tennis.
Ngoài ra, một chiến dịch quảng cáo qua vô tuyến với hình ảnh Juan Valdez và con la thân tín của mình xuất hiện trong một tủ bát đĩa trong nhà bếp hay trên một góc siêu thị. Theo những các quảng cáo hết sức đơn giản như vậy, người tiêu dùng sẽ dễ dàng nhận ra thương hiệu cà phê Colombia 100%  nghĩa là chỉ cần nhìn thấy hình ảnh của Juan Valdez trên các bao bì hay lon hộp cà phê.
Chiến lược này đã bắt đầu được thực hiện ngay sau khi logo-biểu tượng đó được tạo ra năm 1981 và vẫn tiếp tục dùng cho đến ngày hôm nay để nhắc nhở người tiêu dùng làm thế nào có thể mua đúng sản phẩm.
thương hiệu cà phê  Thương hiệu cà phê Colombia

Những năm thập kỷ 90: Chiến lược ”Thưởng thức cuộc sống với ly cà phê”

Những năm 1990 đã đánh dấu một làn sóng hình thành các quán bar cà phê với khách hàng phần nhiều gồm những thanh niên trẻ tuổi – một thế hệ khách hàng mới.
Cà phê Colombia đã nhận ra tập khách hàng tiềm năng trẻ tuổi, vì vậy họ đã tạo ra một chiến lược song song với hình ảnh Juan Valdez “đang ngâm nghi ly cà phê” hay đang nở một nụ cười với những môn thể thao mạo hiểm như lướt sóng, trượt tuyết và tàu lượn.
Chiến dịch này bắt đầu từ những năm 1994 và song hành với hình ảnh và logo – biểu tượng nhắc nhở những người tiêu dùng trẻ tuổi nên uống cà phê Colombia như là một cách cảm nhận cuộc sống thú vị.

Theo Thienduongcafe

Văn hóa cà phê thế giới


Cà phê gần như là loại thức uống phổ biến trên toàn cầu, có mặt khắp nơi trên các châu lục.
Tuy nhiên, tùy nơi mà “văn hóa cà phê” mang bản sắc riêng. Văn hóa ấy định hình trong cách pha chế, thưởng thức lẫn “tiếp thị” cà phê.
Nhật Bản là quốc gia châu Á mà chúng tôi đề cập đầu tiên như một điển hình của văn hóa cà phê. Hẳn, bạn sẽ ngạc nhiên bởi đất nước mặt trời mọc này vốn nổi tiếng với trà đạo. Nhưng điều đó không có nghĩa là người Nhật không thích cà phê.



Cà phê cũng là một phần trong văn hóa ăn uống Nhật Bản

Lịch sử ghi nhận, lần đầu tiên đất nước Mặt trời mọc biết đến cà phê vào năm 1877. Năm 1888, cửa hàng cà phê đầu tiên của Nhật được khai trương ở quận Ueno, Tokyo. Sau đó, các cửa hàng cà phê bắt đầu mọc lên khắp nơi trên đất Nhật.
Mỗi cửa hàng cà phê đều cố gắng để có được một tách cà phê hoàn hảo phục vụ khách hàng. Có cửa hàng chỉ sử dụng hạt cà phê Kilimajaro hoặc Mocha, quán khác lại có phương pháp pha trộn các loại hạt cà phê khác nhau theo một tỷ lệ nhất định.
Cà phê Nhật thường sử dụng đường tán để pha
Người Nhật cũng vốn xem quán cà phê là nơi lý tưởng để họ nghỉ ngơi, thư giãn, tán gẫu nên kèm theo đó là những loại hình phục vụ khác nhau như cà phê nhạc, cà phê truyện tranh. Ở Nhật, ngành công nghiệp truyện tranh thực sự phát triển nên việc kết hợp giữa cà phê và truyện tranh là điều không hề lạ.
Bên cạnh đó, cà phê Nhật cũng bị ảnh hưởng bởi “cơn lốc Starbucks” – một hệ thống cà phê – bar của Mỹ “đổ bộ” lên đất nước này từ năm 1996, thu hút được rất nhiều khách hàng, đặc biệt là giới trẻ. Một trong những lý lẽ thuyết phục nhất giải thích về sự thành công này là Starbucks đem lại cho khách hàng một không khí thời thượng với những loại cà phê espresso chất lượng.
Nói đến đây, hẳn phải đề cập đến văn hóa cà phê của người Mỹ. Từ năm 1983, nước Mỹ, vốn bị các trí thức Châu Âu gọi mỉa mai là “anh trọc phú” đã xuất hiện hệ thống tiệm cà phê Starbuck, mà chỉ hơn 20 năm sau nó đã trở thành hiện tượng đáng chú ý không những chỉ ở nước Mỹ, mà còn ở các quốc gia có nền văn hóa cà phê lâu đời ở châu Âu.
Người ta có thể đứng xếp hàng mỗi buổi sáng trước 12 ngàn quầy cà phê Starbuck có mặt khắp nơi trên thế giới, từ thành phố Wichita nhỏ bé ở một tiểu bang nông nghiệp quê mùa của nước Mỹ đến những khu phố tráng lệ của nước Anh, đến cả thủ đô Paris, cái nôi của văn hóa châu Âu. Có cái gì đó hơi công nghiệp trong hệ thống cà phê của nước Mỹ vốn thực dụng và lấy lợi ích kinh tế làm đầu nhưng có thể thấy rõ, đây là cái nôi “phân phát” nhiều sản phẩm mà thế giới cần, ngay cả cà phê.
Người Ý yêu cà phê, chẳng ai có thể phủ nhận điều đó. Một chuyên gia nghiên cứu cà phê Ý đã nói: “Không có nước Ý, không có Starbucks. Không có cà phê, nước Ý chẳng thể phát triển được”. Tuy nhiên, cà phê ngon nhất không phải được trồng ở Ý mà là được rang và ướp hương tại Ý. Ở đây, có hai loại cà phê đặc biệt nhất mà bạn không thể bỏ qua khi đến đất nước này là Espresso và Cappuccino.
Cà phê Ý luôn tinh tế, đẹp mắt và nhiều màu sắc

văn hóa uống cafe  Văn hóa cafe thế giới  Bản sắc riêng
Một ly cappuchino

văn hóa uống cafe  Văn hóa cafe thế giới  Bản sắc riêng
Một kiểu cà phê kem

văn hóa uống cafe  Văn hóa cafe thế giới  Bản sắc riêng


Việt Nam cũng là một trong những quốc gia định hình được cái gọi là văn hóa cà phê. Cà phê Việt thường đậm đặc, pha phin, nhỏ thành từng giọt. Cà phê có mặt khắp nơi, từ vỉa hè, quán cóc đến những nhà hàng, khách sạn sang trọng bởi đó là thức uống của tất cả mọi người. Có tiền và thời gian thì chọn quán sang thưởng thức, bình dân hơn thì chọn quán cóc nhưng điều này không có nghĩa, thưởng thức cà phê quán cóc không thú vị. Dường như, cà phê chưa bao giờ biết phân tầng hay kén chọn đối tượng bởi đó là thức uống “phổ cập”.
Cà phê Việt luôn giản dị và bình dân

văn hóa uống cafe  Văn hóa cafe thế giới  Bản sắc riêng
Theo Vương Minh

Bản đồ cà phê thế giới




Châu Phi và phía Nam Á
Ethiopia
Cà phê Ethiopia có vị chua hơi gắt khá đặc trưng. Vùng Harar ở phía đông Ethiopia có một loại cà phê đặc sản – nhờ một công nghệ sấy đặc biệt – mà có mùi hoa quả chín được lên men, vị rất tinh tế.
Ethiopia là nước cả xuất khẩu lẫn tiêu thụ cà phê đều đứng đầu châu Phi. Khoảng 12 triệu người Ethiopia sống nhờ thứ hạt nâu này. Ngoài Harar, một số đặc sản cà phê khác của Ethiopia là Sidamo, Yirgacheffe.
Kenya
Là quê hướng của một số loại cà phê căn bằng và tinh tế nhất thế giới. Nó nổi bật với vị chua đậm, sánh nước, và độ quyện của những lớp mùi, vị.
Tazania
Nổi tiếng với loại cà phê đậu, có hạt tròn chứ không dẹt như thông thường. Cà phê của Tazania có khuynh hướng ngậy hơn, nặng hơn của Kenya, nhưng ít tinh tế hơn.
Yemen
Nằm ở cực tây nam của bán đảo Ả rập. Dù cách Hara của Ethiopia cả một biển Hồng Hải nhưng độ tinh té và mùi quả chín của cà phê thì không cách nhau bao xa.
Châu Mỹ
Mexico
Hầu hết cà phê Mexico được trồng ở phía Nam và đều có vị chua. Nó nhẹ nên rất thích hợp cho các bữa ăn sáng, nhất là của người Mỹ. Những hiệu cà phê nổi tiếng Mexico là Altura, Liquidambar MS, Pluma Coixtepec.
Guatemala
Người Đức có công mang cà phê đến trồng ở Guatemala nhưng cây cà phê ở đây lại ngon hơn ở Đức. Cà phê Guatemala có mùi chocolate và vị thơm hơi chua, đặc biệt là những loại được trồng trên các sườn núi lửa ở phía Nam.
Bạn không cần biết tiếng Guatemala mà vẫn có thể thưởng thức cà phê hảo hạng ở xứ này. Chỉ cần nhớ tên mấy nhãn hiệu như Antigua hay Huehuêtnango là đủ.
Nicaragua
Ngon nhất ở Nicaragua là cà phê Sânt Lucia đến từ Mario Cerna. Cả độ ngậy, mùi chocolate và vị chua của nó đều vô cùng quyến rũ. Ngoài Mario Cerna, những vùng cà phê chính khác của Nicaragua là Matagalpa, Jinotega và Nueva Segovia.
Costa Rica
Nổi tiếng với những loại cà phê có độ sạch và cân bằng cao. Thậm chí, chúng có thể áp đặt tính cách của mình lên những người “ba phải mùi vị”. Từ thủ đô Sanjose, bạn có thể dễ dàng đi tới những vùng cà phê trứ danh như Dota, Tarrazu, Tres Rios, Heredia, Volcan Poaz nhưng bạn sẽ không dễ quên được những gì bạn đã nếm ở đó.
Jamaica
Là nơi sản sinh ra Blue Mountain, một trong những loại cà phê đắt nhất, và vì thế mà cũng hay bị làm giả nhất thế giới. Không thể chỉ dùng vài dòng mà nói hết được sự đặc biệt của Blue Mountain. Ngày trước, nhắc đến Jamaica là người ta nghĩ ngay tới Blue Mountain. Ngày nay, vị thế này đã bị chia sẻ bởi cà phê Puerto Rico.
Colombia
Ngành cà phê ở đây quan trọng đến mức bất cứ xe nào quá cảnh vào đất nước này đều phải xịt thuốc cho tiệt vi khuẩn. Nhờ có khí hậu ẩm và vị trí khá cao so với mực nước biển, nhát là ở vùng núi Andes, cà phê Colombia tha hồ “làm vương làm tướng” so với các cây trông khác.
Nhưng thương hiệu cà phê hàng đầu như Medellin, Supremo, Bogota… ngon không kém loại hảo hảng của Costa Rica, nhưng nhẹ và dịu hơn.
Venezuela
Cà phê nổi tiếng nước này là Maracaibo, lây theo tên cảng chuyên chở cà phê. Kém hơn một chút là Tachira và Cucuta (gần biên giới Colombia) – có mùi vị cũng giống cà phê của nước láng giềng – và Menda, có vị ngọt, ít chua hơn.
• BRAZIL:Bản đồ cà phê thế giới
Nhiều người nghĩ rằng cà phê của Brazil – nước xuất khẩu cà phê số 1 thế giới – là một dạng lấy lượng bù chất.
Sự thực không phải thế, đất nước Nam Mỹ này có những loại cà phê tuyệt không kém gì bóng đá. Ví dụ như Bahia hay Bourbon Santos.
Bihia là nơi Brazil sinh ra, còn Santos là nơi mà Brazil nổi tiếng nhờ cà phê.
Hawail
Vùng Kona nằm trên đảo Hawail là nơi sản xuất ra một số loại cà phê đắt nhất thế giới. Mặc dù được trồng ở độ thấp nhưng cà phê Kona ngon không kém những loại tuyệt hảo, chỉ chịu ra quả ở độ cao 3000m trở lên. Cả độ chua, hương thơm mùi rượu vang lẫn vị của cà phê Kona đều trên cả tuyệt vời.
Châu Á
• VIỆT NAM:
Bản đồ cà phê thế giới
Cà phê là một trong những tàn tích dễ chịu nhất từ những năm đô hộ của người Pháp. Giữa những năm 1860, nó chỉ thơm ở mấy biệt thự Tây của Hà Nội. Tới 150 năm sau, Việt Nam đã là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ 2 trên thế giới, chỉ sau Brazil. Nhưng nếu so bì về chất lượng, Việt Nam có lẽ đứng ở hàng thứ mấy chục. Thương hiệu tạm gọi “có tiếng” là Trung Nguyên, Thu Hà. Trên thế giới, cà phê Việt Nam bị xếp vào loại rẻ tiền. Hy vọng điều này sẽ được thay đổi trong tương lai.
• INDONESIA:
Là quê hương của một số loại cà phê trứ danh. Cà phê Sumatran béo ngậy, đen giòn và đâm đặc. Nó là Barolos (một loại rượu vang hảo hạng) của thế giới cà phê. Cà phê Sulawesi(trước là Celebes), cân bằng hơn, độ chua dịu và nhẹ hơn, cũng là “Thuý Vân, Thuý Kiều với Sumatran. Còn cà phê Java thì có hương của kem béo, cân bằng cả về vị và độ chua.
• ẤN ĐỘ:
Nói đến cà phê của đất nước sông Hằng là người ta nhớ tới Moonsooned Malabar. Nhưng gần đây, cũng có một số loại ngon không kém, đậm vị mà dịu chua, đến từ vùng núi cao phía Nam như Baba Budan, Nilgiis hay Sheyaroy.

Colombian Coffee … From Past to Present

Colombian Coffee … From Past to Present


It is believed that the first coffee seeds arrived to the American continent thanks to the French and Dutch. The French introduced them to their colonies (Guyana and Martinique) at the end of the seventeenth century, while the Dutch introduced them to Surinam in 1714.

Coffee was first introduced to Colombia in 1723, presumably thanks to Jesuit priests that brought the seeds from Venezuela. The first information about coffee growing in Colombia dates from 1732. It is said that the first coffee trees were grown in the Jesuit Seminar of Popayán (Cauca) and later in 1741 in the Provinces of Santa Marta and Riohacha. The first commercial plantations date from the end of the eighteen-century in the departments of Santander and Boyaca, and later in the hills surrounding Medellin.
Commercial Cultivation
In the second half of the nineteenth century, a few years after Colombia’s independence from Spain, coffee became widely grown. International coffee prices during that time were quite favorable, which contributed to the popularity of this crop. According to several historians, between 1850 and 1880 Colombia’s annual coffee production increased from 1,000 bags to 100,000 bags. By 1905 the country was already producing 500,000 bags and by 1930 it had exported over 3 million bags. It is estimated that by 1920 coffee represented 65% of Colombia’s total exports by value. The expansion of coffee throughout the country had significant political, economic and social effects.
The spread of coffee throughout the country was highly influenced by the ease of transport from the main producing areas to the ports. In the beginning most of the coffee was grown in Santander, thanks to its closeness to the Venezuelan port of Maracaibo. But as railroads were built in the central part of the country, coffee growing rapidly spread to other regions in the center of the country like Cundinamarca and Antioquia.
By 1932 almost 50% of the total coffee production was grown in Caldas and Antioquia. Departments such as Nariño, Huila and Cauca (in the South of the country) represented less than 5% of the total coffee production in 1932, due mainly to the lack of adequate infrastructure. It is estimated that by 1930 Colombia already represented 10% of total world coffee exports.
The Expansion of the 20th Century
In 1927 a group of coffee growers got together in Medellin to create an organization that they named Federacion Nacional de Cafeteros de Colombia (the FNC). The main objective of this federation of coffee growers was to improve their member’s income. With this objective in mind, and given the International Coffee Pact of 1940, the national government and the FNC created a stabilization fund, which is known as the Fondo Nacional del Café (National Coffee Fund). This Fund is a national account, which has been managed by the FNC since then.
The Fund’s objectives are threefold: (a.) To accumulate inventories under the country’s commitments under ICO Agreements, helping to reduce the volatility in prices; (b.) To act as a buyer of last resort for coffee growers, helping them by giving them a minimum and transparent price for their coffee; and (c.) To help finance public works in coffee growing areas, as well as investment in research and other coffee related areas.
With the help of the FNC and the support from the Government, coffee growing expanded all over the country. By the end of the 1960′s there were 1 million productive coffee hectares and production was of just over 8.5 million bags. During the 1960′s and 70′s the FNC stimulated the cultivation of the Caturra variety, replacing the Typica variety, which had been grown for over a century. Unlike Brazil and Central America, Colombian coffee growers had not grown much Bourbon trees, which were more productive than Typica but had smaller beans. Growers favored Typica trees because of their long, bold beans, much appreciated by exporters because it was easier to produce Supremos.
The Caturra variety, first discovered in Brazil in the 1950′s, is more productive than Typica, can be grown more densely in coffee plots, and can be grown fully exposed to the sun instead of under shade trees. The cultivation of Caturra thus caused a great technological change, since growing coffee under full sun obliged coffee growers to use more chemical fertilizers.
Although at the beginning coffee growers resisted to the new technology and variety, the increase in international coffee prices seen in the 1970′s and 80′s – thanks to the International Coffee Agreements – pushed growers to produce more coffee. Indeed, thanks to this technological change, by 1990 coffee production had increased to 14 million bags with just under 1 million productive coffee hectares, a 60% increase in productivity.
Production and Processing
Colombia is known today as the largest producer of washed Arabica coffee. In fact, unlike Brazil or Ethiopia, all coffee produced in Colombia is washed processed. This is due to an abundant supply of water in most coffee growing regions and to the fact that during the harvesting season the weather is predominantly wet and humid.
Harvesting
All coffee grown in Colombia is manually harvested to select only ripe (red) beans. To harvest one hectare of coffee at least 15 experienced coffee pickers are necessary. Each of these pickers will harvest 90 to 150 kg of cherry each day, working from dawn to dusk. Since most of Colombia’s coffee is grown on hills, picking ripe cherries is not an easy task.
Most regions in Colombia have two harvests every year, one main crop and another usually smaller one called mitaca or traviesa (fly-crop). Almost all coffee producing regions have two harvests, with the exception of three, which are Santander, Boyaca and Sierra Nevada, which only have one harvest during the second semester of the year. Usually the first semester harvest begins in April and ends in July, while the second semester harvest begins in September and ends in December.
Wet Milling and Fermentation (Beneficio)
After the cherries are picked from the trees, they are taken to the beneficio where the pulp (skin) of the cherry is removed mechanically (de-pulping). In Colombia most farms process their coffee cherries in their own beneficio. After the skin of the cherry is removed, the beans are placed in fermentation tanks so that the mucilage gets fermented. The fermented mucilage is then removed by washing the beans with clean water. The fermentation process usually lasts between 12 and 16 hours, depending on the weather (temperature and humidity) and the amount of coffee in the tank.
Today, some coffee growers use mechanical mucilage removers (known as BECOLSUB’s in Colombia) to mechanically remove the mucilage from the parchment instead of waiting to ferment the mucilage. These machines use only 1/40th of the amount of water traditionally used to ferment the mucilage and to wash the parchment coffee. The advantage of this new method is that it reduces contamination of water sources. The removed pulp is used by some coffee growers to produce compost for fertilizing their coffee trees.
Most quality conscious coffee growers also classify their parchment after de-pulping, either using mechanical methods (such as a zaranda) or by using water to sort it by density.
Drying
After the beans are free of mucilage, the washed parchment is taken to drying patios or beds to dry. Today most small growers use parabolic drying beds (such as the one seen in the picture on the left). These parabolic drying beds have a plastic floor with holes so that the water present in the parchment can be released rapidly. Thanks to this system parchment coffee can be dried more evenly and growers avoid having to pick up the coffee in plastic bags when it rains (which increases the chances of cup defects). 

The drying process usually takes between 7 to 14 days depending on the weather, until it reaches a humidity level between 10 – 12%. 

Larger farms use mechanical dryers (fueled by coal, gas, diesel or coffee parchment), which reduce the drying time to only 20 to 24 hours.
Storage
Once the parchment is dried to its optimum level, coffee growers pack their coffee in 40 kg bags and store it until they take it down to town to sell.
From Virmax.com
In Colombia, where coffee had been introduced by the Jesuits as early as 1723, civil strife and the inaccessibility of the best coffee-growing regions had hampered the growth of a coffee industry. Following the “Thousand Days War” of 1899 to 1903, the new peace saw Colombians turn to coffee as their salvation. While larger plantations, or haciendas, dominated the upper Magdalena river regions of Cundinamarca and Tolima, determined peasants staked new claims in the mountainous regions to the west, in Antioquia and Caldas. New railways, relying on coffee for profit, allowed more coffee to be grown and transported.
In 1905 Colombia exported five hundred thousand bags of coffee; by 1915 exports had doubled. While Brazil desperately tried to control its overproduction, Colombian coffee became increasingly popular with American and European consumers. In 1914 Brazil supplied three-quarters of U.S. imports with 5.6 million bags, but by 1919 that figure had fallen to 4.3 million, while Colombia’s share had risen from 687,000 to 915,000 bags. During the same period Central American exports to the U.S. had risen from 302,000 to 1.2 million bags.

Nicaragua



The situation and the role of coffee: Nicaraguan coffee made recent news, with a story on how organic coffee is losing its appeal to Nicaraguan coffee farmers. About 10% of the country’s coffee exports are organic, but producers feel there isn’t enough of a price premium to make the lower yields and extra effort (and certification costs) to produce organic coffees worthwhile.  Higher demand and increased volume of organic coffee worldwide has lowered prices, and according to the article, farmers are sometimes only receiving $1.05/lb for organic beans.

Nicaragua has suffered through civil war and natural disasters.  In 1998, Hurricane Mitch devastated the region and displaced many coffee farmers.  Coffee is an extremely important export crop, and 200,000 Nicaraguans depend on the industry.
Birds in coffee-growing regions: Organic and shade coffee are crucial for biodiversity in this country. Many of North America’s breeding birds — such as Blue-winged Warbler, Least Flycatcher, and the endangered Golden-cheeked Warbler — winter in Nicaragua.  Here’s a list from Smithsonian.
In addition to migratory birds, coffee-growing areas of Nicaragua are critical to resident birds. They are included in the North Central American Highlands Endemic Bird Area(EBA).  EBAs are designated by BirdLife International as areas which have a high percentage of species with restricted ranges.  This EBA is given urgent conservation priority, and the account states, “The montane forests are especially affected at 1,000-1,800 m by the growing of coffee without shade trees.”
About Nicaraguan coffee: Coffee in Nicaragua is often grown under dense shade.  Coffee is usually wet-milled at the farm. The profile of coffee from this country is best described as very approachable, clean, and with good balance. Kenneth Davids of Coffee Review considers Nicaraguans “subtle, suave, and lyric.”
The C&C tasting panel and I have tried several organic Nicaraguan coffees: from Heine Brothers, Great Lakes Roasting Company, and the Counter Culture Matagalpa Cafe San Ramon listed below.  These coffees are classic coffees, friendly and subtle,  medium-bodied and straight-forward. They are not especially complex, and serve asgreat all-day coffees that would be excellent introductions to tasty, sustainable coffee for your Folger-swilling friends.
My favorite Nicaraguan is the Counter Culture; note that they also market the Matagalpa San Ramon as one of their shade-grown Sanctuary coffees, available at retail outlets such as Whole Foods. There are delicious hints of chocolate in this coffee, which is especially good in any kind of immersion brewer, such as a french press.  Counter Culture has a strong relationship with growers in this region through theSister Communities of San Ramon. The farm, Finca Esperanza Verde, has an ecolodge and a butterfly farm, and like the rest of the area, is a great birdwatching destination.  The Counter Culture involvement is a perfect model of relationship coffee.

Cà phê vùng Sidamo - Lan tỏa đam mê


  • Cà phê vùng Sidamo được mệnh danh là vàng đen, là một trong những loại cà phê ngon nhất thế giới. Trên bản đồ thế giới, nằm về phía Đông Soudan là Ethiopie với thủ đô Addis-Abeba. Từ thành phố này lui về phía Nam một chút, ta tìm thấy thị trấn Aouassa, thủ phủ vùng Sidamo.

    Câu chuyện của chàng chăn dê vùng Kaffa

    Thế giới của cà phê có thể chia ra làm hai: Arabica “danh giá” và Robusta thô, rẻ hơn. Cà phê Ethiopie thuộc về nhánh “danh giá”: tất cả các loại Arabica trồng ở Brazil, Ấn Độ hay Colombia ngày nay đều bắt nguồn từ vùng cao nguyên Abyssinie. Đất núi lửa ở độ cao tới 2.750m, khí hậu ôn hòa (15-250C) đã tạo nên một thứ cây quý mang tính di truyền: Arabica. Arabica lại có hai “đứa con” là Typica và Bourbon. Từ Ethiopie, chúng qua Yemen để tới Ấn Độ và Java (Indonesia). Người Hà Lan mang chúng tới trồng ở Nam Mỹ và quần đảo Antilles. Còn người Pháp thì đem Bourbon tới trồng ở đảo La Réunion…

    Không phải loài người đã phát hiện ra cà phê mà chính là một chú dê con! Vào khoảng năm 800, một người chăn dê theo đạo Hồi tên Kaldi ở vùng Kaffa (từ đó mà có tên gọi cà phê), Tây Nam Addis-Abeba, phát hiện một chú dê của mình đang nhảy nhót không ngớt sau khi ăn lá hay quả của một thứ cây.

    Tò mò, Kaldi nhấm nháp thử và đến lượt anh ta cũng bị kích thích như chú dê kia. Anh nói điều đó cho bạn bè và thứ cây đó đã giúp họ thức trắng nhiều đêm để cầu nguyện. Đó chính là một trong những “ứng dụng” đầu tiên của cà phê. Thế rồi “con đường cà phê” được mở ra, bắt đầu từ cảng Moka của Yemen qua Le Caire (Ai Cập), Thổ Nhĩ Kỳ, vào châu Âu qua các cảng Venise (Ý), Amsterdam (Hà Lan) hay Marseille (Pháp)…

    Người Ethiopie uống tới một nửa số cà phê mà họ làm ra, kỷ lục trong số các nước sản xuất cà phê. Họ luôn uống ở nhà mình. Cần một tiếng đồng hồ để rang tẩm những hạt cà phê còn xanh trên những cái khay sắt đặt trên bếp lửa nấu bằng củi gỗ. Sau đó nấu cà phê lấy nước, mỗi mẻ như vậy uống được ba nước…

    Hạt phương Nam, hương vị phương Bắc

    Cà phê mọc ở phương Nam nhưng lợi nhuận lại nằm ở phương Bắc. Vàng đen, sản phẩm được trao đổi nhiều nhất trên thị trường thế giới chỉ sau có dầu mỏ, không làm giàu cho người dân địa phương. Ở Djimma, một ký cà phê xanh được mua với giá 1,50 euro. Cũng trọng lượng ấy, theo từng gói 250g, cửa hàng Starbucks ở Paris bán với giá 22 euro!

    Cà phê mọc ở phương Nam nhưng hương vị của nó lại được quyết định bởi người phương Bắc. Đàn ông thường thích loại cà phê harar, vị hơi ngậy, như vị bơ, có mùi như mùi gia vị. Phụ nữ thì lại thích cà phê Sidamo, tinh tế hơn, như có hương hoa, thơm thơm mùi trái mơ… Nhưng ai cũng thích cà phê ngon và bio (ý nói loại cà phê được trồng không sử dụng các loại phân bón hoặc chế phẩm hóa học). Đấy cũng là điều may mắn cho những người trồng cà phê Ethiopie: từ thời Kaldi cho tới tận ngày nay, cà phê của họ luôn được chăm bón bằng phân hữu cơ, đơn giản chỉ vì phân hóa học là một thứ sản phẩm xa xỉ ngoài tầm tay của 77 triệu người dân nước này…

    Cà phê ở đây được chia làm 2 loại: Cà phê ngâm nước (cà phê “rửa”) và cà phê tự nhiên. Để lấy hạt cà phê có hai cách: Thịt của quả cà phê được lấy đi trong nước nhờ những chiếc đĩa cọ xát vào nhau, sau đó hạt tiếp tục được ngâm nước từ 36 tới 48 giờ. Một cách khác là trái cà phê tươi đem phơi nắng cho tới khi cứng lại, sau đó được xay tách vỏ bằng máy. Cà phê rửa thường được chuộng hơn vì có hương vị của thứ lên men, như rượu vang vậy. Hạt cà phê được kiểm tra kỹ lưỡng ở phòng thí nghiệm quốc gia đặt tại Addis-Abeba.

    Người làm công việc thử cà phê được đào tạo trong 3 năm và thường phải làm việc trong 10 năm mới có đủ kinh nghiệm cần thiết. Đến lượt mình, các nhà xuất nhập khẩu lại làm sạch và tuyển chọn lại cà phê một lần nữa.

    Cà phê trồng ở phương Nam nhưng nó lại được sao tẩm ở phương Bắc. Sau khi rang là lúc cà phê có hương vị ngon nhất, cần phải sử dụng ngay. Cà phê ngon cần được rang ở nhiệt độ cao từ 13 tới 25 phút. Người Tây Âu thích cà phê nâu. Người Nam Âu thích cà phê vàng nâu hoặc nâu đỏ. Còn cà phê của chuỗi cửa hàng Starbucks (Mỹ) thì có màu đen đặc, đen đến nỗi người ta gọi nó là “Starburnt” (burnt có nghĩa là “cháy”). Starbucks mua những thứ cà phê ngon của thế giới, rồi chế biến, sau đó thêm hương va-ni, caramen hay hạt hạnh nhân… để đáp ứng “gu” thưởng thức đa dạng của khách…

    Tương tự, cà phê mọc ở phương Nam nhưng nghệ thuật marketing lại đến từ phương Bắc. Ở Addis-Abeba, bạn có thể vào các cửa tiệm Kaldi’s để uống một ly cà phê và ngồi ngắm những bức tranh kể lại câu chuyện xưa kia của chàng chăn dê đã tìm ra cây cà phê trên tường. Kaldi’s là “bản sao” của Starbucks, chỉ khác có tên gọi…

    Trái cà phê khi vừa hái xong phải được xử lý ngay. Người thu hoạch thường phơi cà phê dưới nắng mặt trời, đảo thường xuyên. Khi trái cà phê đã khô, nó được bóc vỏ và thịt đi để lấy hạt. Công đoạn này của cà phê Robusta thường làm khô, trong khi cà phê Arabica lại được làm “ướt”: trái cà phê được ủ lên men để loại bỏ vỏ và thịt, còn hạt sau đó được sấy khô. Các xưởng chế biến cà phê hiện đại có máy tuyển lựa, loại bỏ trái cà phê, hạt cà phê kém chất lượng. Sau khi đã được xử lý, hạt cà phê cần phải được rang ngay. Ở nhiệt độ cao, các phản ứng hóa học xảy ra làm cà phê dậy mùi thơm. Quá trình rang cà phê được thực hiện theo một số giai đoạn. Rang trong thời gian ngắn, ở nhiệt độ quá cao, cà phê dễ có vị đắng. Rang ở nhiệt độ thấp, cà phê dễ có vị a xít…
    Nhị Bình
    Theo: L’Express

Cà phê Blue Mountain ở Jamaica


  • Cà phê Blue Mountain là một trong những loại hạt cà phê arabica có giá thành cao và được ưa chuộng nhất trên thế giới. Nó có nguồn gốc ở vùng núi Blue Mountains thuộc Jamaica. Người ta gọi loại hạt cà phê này là Jamaican Blue Mountain để phân biệt với những loại hạt cà phê khác.

    Với độ cao trên 2000 m, vùng núi Blue Mountains là một trong những vùng trồng cà phê cao nhất trên thế giới. Khí hậu ở đây dễ chịu, lượng mưa lớn, đất rất giàu dinh dưỡng và thấm nước tốt. Sự kết hợp giữa đất đai và khí hậu tạo nên điều kiện lý tưởng cho cây cà phê. Tuy nhiên loại cà phê này không thích hợp với các điều kiện khí hậu khác. Sự thay đổi khí hậu sẽ dẫn tới sự thay đổi hương vị cà phê. Chính vì thế mà hiện nay nó mới chỉ được trồng ở Jamaica và Hawaii.

    Theo những người sành cà phê thì loại cà phê này đượm mùi, ít chua, có chút xíu vị ngọt, đậm đà. Giá một kg cà phê loại này hiện nay khoảng 100 USD. Nhật Bản là nước nhập khẩu cà phê Blue Mountain nhiều nhất (90% tổng sản lượng).

    Theo: wikipedia.org

Cà phê Panama


  • Ngòai con kênh đào có thể nói nổi tiếng nhất nhì thế giới đó,  còn một chuyện khác ít ai biết đến, đó là Panama là nơi sản xuất và xuất cảng cà phê khá nổi tiếng.  Những ngày ở đây tôi đã có dịp đi thăm một đồn điền trồng và chế biến cà phê xuất cảng: Café Ruiz.
    Phố núi BoqueteNhà máy chế biến Café Ruiz
    Cà phê Panama được trồng nhiều ở thành phố núi Boquete, miền Tây Bắc.  Đất nơi đây có nhiều phún xuất của núi lửa và mưa rất nhiều, rất thích hợp cho cây cà phê Arabica.  Có nhiều loại cây cà phê khác nhau.  Việt nam, Brazil, Columbia và nhiều nước khác trồng cà phê robusta.  Cây nhỏ, nồng độ mạnh, cần ánh sáng và khoản trống cho nên cà phê được trồng theo hàng lối.  Ngược lại, cà phê Arabica cần bóng mát cho nên cây không trồng theo thứ tự dọc ngang nào cả.  
    Cà phê trồng không theo hàng lối nào cảCây diệt côn trùng
    Chen kẽ giữa những cây cà phê là những loại cây trồng khác như chuối, mít, xoài, đu đủ, ổi hay các loại cây khác.  Trong trang trại cà phê của Café Ruiz, có trồng hai loại  cây đặc biệt, một là castro bean, một loại cây độc, nhưng dầu của nó lại có thể làm thuốc nhuận trường; loại kia từa tựa cây lá sắn, có đặc tính diệt côn trùng, hễ côn trùng ăn trúng lá cây này là chúng sẽ chết.  Nhờ  thế  nhà vườn không cần phải dùng thuốc trừ sâu, và cũng do đó mà cà phê Panama bán giá rất đắt.

    Hái cà phê cũng có nhiều cách.  Có nơi người ta tuốt trái cà phê ra khỏi cành, có nơi dùng tấm ni lông trải dọc theo hàng cây cà phê để cho trái chín rụng xuống, riêng cà phê trong trang trại Ruiz phải hái từng trái một.  Cà phê nơi đây ra hoa và kết trái quanh năm, cho nên trái không chín đồng loạt.  Trên một cây có thể có đủ cả hoa, trái non, trái già và trái chín, người hái cà phê lựa trái chín để hái.  Cà phê cũng như cam vậy, non thì chưa đủ ngọt, già quá thì bị úng, cho nên hái cà phê phải chọn trái chín đúng mức mới cho ra những hạt cà phê đúng phẩm chất.  Khi hái cà phê, người công nhân phải nắm trái cà phê và vặn một vòng để bứt  trái cà phê ra khỏi  cái cuống, để cái cuống lại trên cành vì năm sau hoa cà phê sẽ trổ lại ở cuống cà phê đó.  Nếu bứt luôn cái cuống là diệt luôn nguồn sinh sản của cây.  Ông tua gai cho hai người khách trong nhóm hái thử hai trái, cả hai đều bứt luôn cả cuống ra khỏi cành.
    Trái chín và trái xanh cùng trên một cây
     Hái trái kèm theo cuống như thế này
    Trang trại Café Ruiz có trồng thêm một loại cà phê xuất xứ từ Ethiopia, cà phê Geisha.  Nguyên gốc nó là Guessha, nhưng một lầm lẫn nào đó trong phát âm khiến nó biến thành Geisha nghe tưởng như là của Nhật.  Cà phê này có màu lá nhạt hơn cà phê Arabica, khoảng cách giữa các chùm lá đối đầu dài hơn và có cành đơn.  Người ta cho biết giống cà phê này rất kén đất, nó đòi hỏi một khoản không rất lớn.  Một hecta chỉ trồng được 1200 cây trong khi các loại cà phê khác có thể trồng đến 8000 cây.
    Hoa cà phêCây cà phê con
    Cà phê con được trồng từ hột cà phê chín, một năm rưỡi sau mới đem ra trồng trên đất.  Các cây già hoặc kém năng suất sẽ bị đốn đi để trồng cây mới vào.  Phải thêm một năm nữa cây con mới có thể ra hoa kết trái.  Từ hoa đến khi kết trái cũng hết vài tháng và cũng phải vài tháng sau đó mới bắt đầu chín.  Mùa hái cà phê từ tháng mười đến tháng ba.

     Một trái cà phê thường có hai hột, có khi ba, cũng có khi một.  Bao quanh hột có một lớp thịt mềm, mọng nước và rất mỏng, có vị ngọt.  Công nhân hái cà phê có thể chọn trái chín ngon nhất, bóc vỏ rồi bỏ vào miệng nhấp lấy chất ngọt này xong nhả hột ra.  Hột cà phê lúc này chẳng có mùi vị gì cả, cắn vào thì xốp phần ngoài và cứng phần trong.  Khi thăm xưởng rang cà phê  mới biết thêm hột cà phê còn có hai lớp vỏ nữa, sẽ được bóc trước khi rang.  Vỏ này sẽ được đốt cháy, lấy tro làm phân bón cho cây cà phê .

    Cà phê hái xong sẽ được phân loại đợt một bằng cách thả vào nước.  Các trái nổi lên trên (floating cafe) là trái kém phẩm chất, sẽ được lùa qua một bên, cũng chế biến qua đủ các công đoạn, xong sẽ bán cho các hãng cà phê làm instant café.  Nest cà phê dùng loại này.  Cà phê nổi này không hẳn là cà phê hư hay không đúng chất.  Nó có thể bị một loại vi sinh vật ký sinh, hoặc bị côn trùng ăn, hoặc méo mó; nói chung là người ta phải chọn những trái cà phê hoàn hảo nhất, không tì vết để tạo ra những ly cà phê sực nức mùi thơm trên các bàn ăn, trong các phòng giải lao cho hội nghị, hay ở một nơi nào đó mà người thưởng thức cảm thấy vô cùng thoải mái và không mong ước gì hơn.

    Sau khi lùa các hột nổi, lớp vỏ ngoài cùng sẽ được bóc ra. Vỏ này rất qúy, nó sẽ là phân bón cho ruộng cà phê cùng với lớp vỏ thứ hai và thứ ba.  Hột cà phê và lớp thịt mềm ngọt sẽ được ủ (fermentation) lại một ngày và một đêm, đủ cho lớp đường lên men, xong sẽ đem rửa thật sạch cho hết mùi chua.  Rửa sạch rồi thì lo làm khô bằng cách phơi nắng, gió hoặc sấy.  Giai đoạn làm khô này lấy đi khoản 88% nước trong hột cà phê.
    Bên trong nhà máy chế biến.  Giai đoạn bóc vỏ, lên men và rửa được làm bằng máySau khi sấy khô, cà phê được vô bao, tồn kho sáu tháng.  Mỗi đợt vô bao đều có dán nhãn, ghi ngày, tháng, năm và bao nhiêu bao
    Đến đây chưa phải là xong.  Cà phê 12% nước này sẽ được vô bao, tồn kho sáu tháng sau mới đem ra để bóc vỏ thứ hai và vỏ thứ ba (parchement và silver skin).  Khi lớp vỏ thứ ba bóc xong, cà phê được gọi là green café.  Nó sẽ được phân loại theo cỡ, theo dạng, theo trọng lượng (size, shape, density).  Phân loại theo cỡ thì dễ , chỉ cần sàn cho hột lớn ở sàn trên, hột nhỏ lọt xuống sàn dươi, hột nhỏ nữa xuống sàn dưới cùng.  Theo dạng thì có hột phẳng, có hột tròn, có hột hình tam giác, tuỳ theo trái cà phê có hai, một hay ba hột.  Theo trọng lượng là hột nặng hay nhẹ bằng cách cho chúng chạy qua một cái quạt, hột nhẹ sẽ văng qua một bên.  Panama xuất cảng green café này, tùy nơi nhập cảng muốn rang cà phê theo lối nào thì làm theo ý của họ.
    Phân loại cà phêGreen café
    Có hai lối rang cà phê: European và French.  Rang theo lối European có nhiều mùi cà phê hơn, nhiều cafein hơn và ít đắng.  French roast rang lâu hơn, mất nhiều cafein và đắng hơn (nghĩa là càng rang lâu thì cà phê càng cháy nhiều hơn làm đắng hơn và cafein càng mất đi).  Cà phê rang xong phải làm nguội ngay tức thời để bảo đảm độ cafein và độ đắng.  Thường thì cứ 750 pounds cà phê tươi sẽ cho 100 pounds cà phê rang , có 48 hột cà phê trong một ly cà phê.

      
    Café Ruiz khởi đầu sự nghiệp với cái chảo rang này, mỗi lần rang được một kýChảo rang hiện nay, mỗi lần rang được 125 ký
    Nếm cà phê cũng như nếm rượu.  Cho các mẫu cà phê rang và xay rồi vào trong những cái chai miệng rộng, xong vỗ vỗ vào thành chai cho cà phê di động làm dậy mùi cà phê rồi ngửi từng mẫu một, viết báo cáo.  Ngửi mùi có thể phân biệt được cà phê có mùi chua vì lên men lâu, mùi giỏ vì chứa cà phê trong giỏ quá lâu, mùi côn trùng, mùi nấm mốc v..v.. Xong, cũng với mẫu đó, chế nước sôi vào, xem cà phê hoà tan, nổi bọt, dậy mùi . viết báo cáo.  Cuối cùng, vớt phần nước trên cùng cho vào miệng nếm vị, xong nhổ ra rồi viết báo cáo.
    Độ cháy khi rang cà phêHương vị dùng chung với cà phê
    Có thể pha thêm các hương vị khác vào cà phê, ví dụ như hương cam, táo, vani.  Hương vị không thay đổi phẩm chất của cà phê, chỉ thêm hương mà thôi.  Các loại hương vị phần lớn được nhập cảng từ Hoa kỳ.

    Mua cà phê nên mua cà phê hột, dùng đến đâu thì xay đến đó để có thể giữ mùi thơm được lâu. Nếu mua cà phê xay rồi thì nên mua đủ dùng trong một tuần thôi.  Nếu phải mua trong các bao bì đóng gói sẵn cỡ nửa ký trở lên thì nên sớt ra một phần nhỏ dùng trong chừng một tuần, phần còn lại phải nén kỹ trong bao nhựa không thấm nước, ép cho không khí thoát ra hết, xong cất trong ngăn đá tủ lạnh.

    Panama là nước sản xuất ít nhất nhưng có chất lượng đáng kể nhất.  Trong bảy năm vừa qua họ đã chiếm được bốn giải vàng (2001, 02, 03 hay 04 gì đó, tôi không nhớ rõ).

    Những điều trên đây được anh Carlos, một công nhân của Café Ruiz, vừa là hướng dẫn viên, giải thích.  Anh cho biết, ngày xưa mẹ anh là một sơn nữ của núi rừng bên cạnh cao nguyên Boquete.  Năm 16 tuổi mẹ anh gia nhập đoàn quân đi hái cà phê theo mùa.  Hết mùa, mẹ anh ở lại Boquete, lập gia đình và lập nghiệp tại đây luôn.  Đến phiên anh, năm 16 tuổi anh theo mẹ vào hái cà phê cho công ty Café Ruiz theo thời vụ .  Không lâu sau đó anh trở thành công nhân chính thức của công ty này.  Anh cho biết, thời gian đầu khi công ty mới mở ra tua tham quan trồng và chế biến cà phê , anh được chỉ định làm người hướng dẫn và giải thích.  Nhưng lúc đó anh nói tiếng Tây ban nha và phải có thông dịch viên dịch ra tiếng Anh.  Lần lần, chỉ bằng nghe không thôi, anh đã học nói tiếng Anh và nói năng rất lưu loát.  Công ty đã đánh giá anh đúng mức cho nên đã chính thức đặt anh vào vị trí hướng dẫn du khách tham quan xưởng chế biến và vườn trồng cà phê .  Đến nay (2008) Anh đã có 10 năm làm việc với công ty Café Ruiz.  Anh nói về mình một cách khiêm nhường nhưng không dấu được vẻ hãnh diện mình đang là một thành viên của một công ty nổi tiếng trên thế giới.
    Theo: art2all.net

Vùng địa lý cà phê Châu Phi

Một số loại café nổi tiếng nhất thế giới là được trồng ở Đông Phi, dọc theo trục Bắc - Nam mà bắt đầu là từ bán đảo Ả Rập ở Yemen và kết thúc ở Zimbawe ở miền Nam Châu Phi, dọc theo các cao nguyên Etiopia, Kenya, Tazania, Zambia và nhiều nơi không mấy nổi tiếng khác .

Xuất xứ địa lí: Cà phê từ Châu  Phi và Ả-rập 


Một số loại café nổi tiếng nhất thế giới là được trồng ở Đông Phi, dọc theo trục Bắc - Nam mà bắt đầu là từ bán đảo Ả Rập ở Yemen và kết thúc ở Zimbawe ở miền Nam Châu Phi, dọc theo các cao nguyên Etiopia, Kenya, Tazania, Zambia và nhiều nơi không mấy nổi tiếng khác .

Những loại café nổi tiếng ở thế giới thường được đặc trưng bởi hương thơm đặc biệt và mùi vị đặc trưng của trái café, có loại có mùi thơm giống nước hoa, có loại mang mùi vị đặc trưng của giống cam – quýt ở Etiopia, ở Kenya, cũng có loại mang vị hấp dẫn nhẹ nhàng của loại quả ở Zambia. Khi nói đến các loại café nổi tiếng phải kể đến hai trong số những loại café ra đời sớm nhất trên thế giới là Harrar được trồng ở miền đông bắc Etiopia và café của Yemen ở bờ bên kia biển Đỏ.
 
Café từ Châu Phi và Ả Rập: Yemen.

Café Mocha là một trong những loại café mang lại cho người uống nhiều cảm giác khác nhau. Café Mocha (cũng có thể viết là Moka, Mocahay Mocca) ngày nay được trống ở trên đỉnh núi Yemen như chúng vẫn thường được trồng hàng trăm năm nay, vùng này nằm ở miền Tây Nam của bán đảo Ả Rập. Thoạt đầu chúng được chuyển trở thông qua cảng Mocha mà ngày nay đã được tha thế bằng một cảng mới hiện đại hơn và cảng Mocha trở nên điêu tàn, củ kỹ. Vì vậy cái tên Mocha đã trở nên quá quen thuộc và trở thành một phần không thể thiếu trong tên gọi của loại café nổi tiếng thế giới này. Người ta thuờng biết đến tên càfê Mocha hơn là café Yemen hay Arabian

Ngày nay người ta có thể bị nhầm lẫn giữa café Yemen và loại café giống café Yemen có xuất xứ từ miền Đông Etiopia gần thành phố Harrar. Loại café rang Harrar Etiopia này thường được bán với nhãn hiệu café Mocha hoặc Moka. Loại café này giống với café Yemen chính hiệu nhưng chỉ khác ở chổ là hạt café nhẹ hơn.

Một khả năng nhầm lẫn khác bắt nguồn từ việc pha trộn một ít sôcôla vào café YemenMocha, điều này làm cho một số người say mê café gọi tên kèm theo thức uống gồm café và socola.

Café lâu đời nhất ( xuất hiện sớm nhất ) trên thị trường thế giới là café Ả Rập thực sự được trồng ở các đồi núi trung tâm của Yemen vẫn còn được trồng trong suốt 500 năm nay trên những vùng đất các triền núi bán khô cằn phía dưới những dãy đá già. Được hình thành mà về cấu trúc giống hệt như là ngọn núi tự mở rộng. Về mùa hè thì các cơn mưa sương mù làm cho các đỉnh núi có màu xanh sáng thì các cây café nhỏ bắt đầu nở hoa và kết trái. Mùa thu khi các đám mây mù tan đi và không khí trở nên khô ráo hơn thì trái café cũng bắt đầu chín muồi, chúng được hái xuống và được giải đều trên các mái nhà của những ngôi nhà đá để phơi sấy khô. Vào mùa đông khô ráo, nước được giữ trong các bể chứa nhỏ thường sẽ được tưới vào gốc cây café để giúp cây sống được cho đến khi xuất hiện những cơn mưa phùn của mùa hè.

Café Yemen vẫn được chế biến theo cách chế biến của hàng thế kỷ này. Tất cả các loại café Mocha của Yemen là càfê sấy khô hoặc tự nhiên, sấy cho đến khi tính chất từ trái café bám hết vào hạt là được. Sau khi trái và hạt café đã được sấy khô thì chúng sẽ được đổ vào cối xay để làm tróc vỏ đi sẽ thu được hạt café. Tôi đã từng nghe người ta nói rằng những cối xay này được vận hành bởi những con lạc đà hoặc vượn mặc dù tôi chưa từng được chứng kiến cảnh tượng này. Nhưng giờ đây những cối xay này chạy bằng động cơ xăng làm cho mọi người đều cảm thấy hơi tiếc vì sẽ không còn được nhìn thấy công nghệ sản xuất càfê đầu tiên nhất và lâu đời nhất.

Vỏ của trái café sau khi đã được phơi khô sẽ được cối xay nghiền nát, để tạo nên vị ngọt cho café mà người Yemen gọi đó là qishr. Vỏ café được cho thêm một số gia vị và được nấu lên. Kết quả là sẽ tạo ra một thức uống thật mát thường được uống vào buổi trưa để làm hạ cơn nóng trong người và làm cho người ta tỉnh táo. Ngưới Yemen chỉ uống café nguyên chất đã rang chín vào buổi sáng, sau khi tắm xong họ sẽ uống nhanh một cốc café nóng với đường theo kiểu của người Trung Đông.

Hầu hết café Yemen được trồng từ những cây café Arabica mà có lẽ không một nơi nào ngoại trừ miền Đông Etiopia có thể có. Người Yemen đặt rất nhiều tên gọi cho café, có lẽ đến khoảng một trăm tên gọi. Hầu hết những tên này chỉ được gọi miệng chứ không có tên chính thức trong văn bản nào cả và chỉ được thừa nhận bằng miệng dựa trên những hiểu biết về café Yemen. Ít nhất thì điều đó cũng được thừa nhận ở khắp vùng Yemen, tuy nhiên Ismaili, nơi sản xuất café hạt tròn, nhỏ giống như hạt đậu tách ra.
 
Những bí ẩn trong tên thương mại của café. Tên thương mại của café cũng giống như tên của những loại đậu khác, nó cũng liên quan đến loại đậu cây và tên của những quận trồng loại cây đó. Ví dụ nếu một người kinh doanh café nói anh ta đang có sẳn loại café Ismaili thì điều đó sẽ chưa rõ ràng nếu anh ta không cho biết café được trồng ở quận Bani Ismaili hay hạt được thu hoạch từ giống cây cà phê Ismaili hay cả hai.

Điếu đó cho thấy rằng sẽ có nhiều điều cần bàn luận xung quanh vấn đề tên thương mại của café Yemen. Mahari là loại café được trồng ở Banimsttar, đây là một quận trồng café nằm ở phía Tây Thủ đô Sana’a đây là loại café Yemen nổi tiếng nhất. Mặc dù những người xuất khẩu café thường trộn café Yemen với những loại café khác tương tự nhưng café được bán với tên đấy vẫn có vị chua đặc trưng cùng với những mùi thơm phức tạp đặc biệt của café Yemen. Hirazi, một loại café khác được trồng ở những dãy núi phía Tây Sana’a có lẽ cũng có vị chua và vị trái cây tương tự nhưng hơi nhẹ hơn café Matari một chút. Café Ismaili bất kể đế cập đến tên giống cây hay địa danh thì nó cũng ngon hơn mặc dù có chút nhẹ nhàng hơn và ít thơm hơn café Matari. Tên thương mại Sanari biểu thị được cách pha chế café từ nhiều vùng khác nhau ở miền Tây Sana’a, loại café này thì có vẻ trung hoà hơn, ít chua hơn, ít phức tạp hơn café Mattari, Hirazi, hay Ismaili. Nói đến Sanani thì người ta thường hiểu đó là café được trồng ở những nơi có địa hình thấp hơn trong đó bao gồm quận Rami.
 
Café xuất xứ từ Châu Phi và Ả Rập: Etiopia.

Vụ café được trồng nhằm mục đích thương mại đầu tiên là ở Yemen nhưng cây café lại có xuất xứ từ ẢRập, vượt qua biển Đỏ đến miền Tây Etiopia, trên những cao nguyên mà người dân nơi đây thường chỉ đến để hái trái café hoang. Ngày nay, café Etiopia mà có ít nhất một loại điển hình là café Yirgacheffe được xếp vào nhóm các loại café ngon nhất thế giới.

Tất cả những điều nói trên chứng tỏ sự kết hợp hài hoà giữa vị rượu và chất chua của trái cây trong café của Châu Phi và Ả Rập. Song café của người Etiopia lại được xếp lên hàng đầu. Những thành công này được xác định nhờ vào quy trình (phương pháp) chế biến. Café Etiopia hầu như được áp dụng nhửng quy trình sấy khô khác nhau (hạt càfê được sấy khô lúc còn trong vỏ) và có loại được sấy bằng phương pháp tinh vi, phương pháp làm ẩm trên qui mô lớn, mà trong đó tính chất của trái café được chuyển ngay vào hạt nhờ vào một qui trình kỹ thuật phức tạp trước khi hạt café được sấy khô.

Các loại café đã qua chế biến của Etiopia. Trong hầu hết qui trình chế biến café của Etiopia là thiếu một qui trình chế biến hàng loạt những gói café nhỏ để tiêu thụ trong thị trường nội địa. Người ta sẽ hái và phơi khô trái café ở bất cứ mọi nơi cho dù đó là một cây café mọc đơn độc. Tôi còn nhớ có lần đang lái xe trên một con đường vắng ở miền Đông Etiopia và đột nhiên chạy đến một vùng mà các bức tường rào đều đựoc xây bằng đá để bảo vệ cho khu vực phơi café. Loại café được chế biến theo cách này rất hiếm khi xuất khẩu, loại café chỉ cần bóc vỏ, rang chín này chỉ tiêu thụ trong thị trường nội địa.

Thay vì vậy những quả cà phê chín ngon nhất sẽ được bán cho các xưởng sấy café được gọi là các xưởng pha chế. Ơ đó café được chế biến để xuất khẩu theo quy trình công nghệ hiện đại nhất. Chỉ trừ những trái chưa chín lắm hoặc nhừng trái quá chín được đưa ra phơi ở ngoài nhưng không phải ở trên mặt đường mà là trên những chiếc chiếu cao và to như mặt bàn đặt phía trước cửa nhà của các nông dân. Café được sấy theo cách náy cũng có thể được xuất khẩu nhưng chỉ để lấp chỗ khi loại café hảo hạng bị thiếu.

Café harrar của Etiopia ngoài loại café hạng hai của Etiopia là loại càphê cao cấp và được tán dương của Harrar còn có loại café được trồng ở tỉnh Muslim phía đông thủ đô Addis Ababa ở Harrar, tất cả trái café bao gồm cả trái chín ngon nhất và trái chín nhất đều được đưa ra phơi ngoài trời. Thông thường thì trái café sẽ được đưa ra phơi trực tiếp trên cây. Và cuối cùng sẽ cho ra loại café rất giống café Yemen, nó mang vị ngọt vừa hoang dã vừa có vị trái café còn có chút vị men nữa. Loại hương vị này chỉ có ở café Yemen và café Harrar của Etiopia, và nó thường được gọi là café có vị Mocha. Đây cũng là một trong loại café nổi tiếng nhất thế giới. Vì thế nên café Harrar cũng thường được bán với tên Mocha hay Moka, điều này càng làm rối thêm xung quanh việc lạm dụng tên gọi của café Mocha. Một số người bán lẻ thường gọi tên càphê bằng cách gộp cả hai loại theo cách gọi của người Etiopia như là café Moka Harra. Harra cũng có thể được viết thành Harari, Harer hay Harar.

Yirgacheffe và những loại café khai thác của Etiopia. Nhà máy chế biến café đầu tiên được xây dựng ở Etiopia vào năm 1972. Ba thập niên sau đó nhiều nhà máy khác được xây dựng ở phía Nam và phía Tây của Etiopia sử dụng phương pháp sử lý vi sinh. Qua quy trình sử lý này vị của quả sẽ được chuyển hết vào hạt café trong quá trình sấy, nhờ thế các loại café như café Harrar có mùi vị rất đặc trưng và hấp dẫn.

Trong các loại café chế biến của vùng Yirgacheffe, vùng đồi cao có lớp đất trồng vừa sâu vừa tốt ở miền Tây-Nam Etiopia, loại café này rất thơm. Café Etiopia Yirgacheffe là một loại café được kết hợp cao độ các hương thơm của cam quýt và các loại hoa, do đó loại café này cũng được xem là loại café đặc biệt nhất thế giới. Các loại café khác của Etiopia như Washed limu, Washed Sidamo, Washed Jima và các loại khác cũng đều có hạt tròn, mịn, thơm và có vị cam nhưng lại ít thơm hơn loại café Yirgacheffe. Tuy nhiên chúng cũng có thể được xếp vào loại café rất ngon và đặc biệt.

Hầu hết các café Etiopia được trồng mà không sử dụng hoá nông nghiệp và được trồng trong điều kiện tốt nhất: dưới bóng mát và được trồng xen với những cây khác. Song chỉ riêng café được sản xuất ở các nông trường quốc doanh ở vùng Tây-Nam Etiopia thì lại được sử dụng hoá nông nghiệp một cách rất thận trọng. Đặc biệt Harrar và Yirgacheffe là hai nơi mà người ta gọi là”Cà phê vườn” được trồng ở dân làng trồng trên những cánh đồng nhỏ và sử dụng phương pháp hoàn toàn truyền thống.
 
Café từ Châu Phi và ẢRập: Kenya

Trong số các nước sản xuất càphê hiện nay thì Kenya được nhiều người biết đến nhất. Ngành nông ngiệp sản xuất café xuất hiện khá trễ ở quốc gia mà người ta chỉ uống trà này và đã được người dân Anh hướng dẫn trồng vào năm 1990. khi người dân Kenya giành được độc lập thì họ bắt đầu xây dựng ngành sản xuất café mà trước đây người ta chưa bao giờ nghĩ tới. Người ta đã chế tạo ra được quy trình công nghệ vi sinh và sử dụng công nghệ tiên tiến nhất trong việc kết tinh tính chất từ trái café và công nghệ sấy, người ta cũng đã phát triển được mối quan hệ hợp tác giữa các cổ đông nhỏ, phát triển được ngành công nghiệp xuất khẩu thông qua các cuộc đấu giá mở.
Đặc biệt hệ thống đấu giá này có thề được xem là thành công chủ yếu của café Kenya. Người mua sẽ đưa ra giá đấu thầu cao nhất để có thể mua một lô càphê được bán trong cuộc đấu giá hàng tuần do nhà nước Kenya tổ chức. Sẽ không có bất cứ thoả hiệp kín nào được thực hiện. Các mẫu café sẽ được đưa ra buổi đấu giá để cho các nhà xuất khẩu xem xét để mua, chính những người này sẽ định giá các lô café đó và chính họ sẽ phân phối những lô hàng này. Những người xuất khẩu sẽ đấu giá dựa trên sự định giá của riêng họ và dựa trên sở thích của khách hàng.

Hệ thống đơn giản và công bằng này sẽ thoả đáng hơn vì caphe chất lượng cao hơn thì giá cao hơn. Café Kenya có được lợi thế là điều kiện trồng trọt tốt cùng với điều kiện thuận lợi là đất đai, khí hậu đã góp phần làm tăng lên mùi vị hổn hợp rượu và tinh chất trái café của các loại café Ả Rập và Đông Phi.

Khu vực trồng café chủ yếu được trải dài từ miền nam với độ dốc 17000 feet đến gần thủ đô Nairobi. Có một vùng trồng café nhỏ hơn nằm trên đường dốc của Mt. Elgor, nằm trên biên giới giữa Uganda và Kenya. Hầu hết café Kenya được bán ở một số cửa hàng xung quanh vùng Mt. Kenya và đôi lúc được gọi với tên của thủ đô Nairobi. Đẳng cấp chỉ rõ kích cỡ của hạt café, ví dụ AA là loại café có hạt lớn nhất, sau đó là A&b.

Cốc café Kenya. Café Kenya gồm các loại có mùi vị đậm nhất và loại café có mùi vị phức tạp nhất, vị chua hổn hợp của rượu và hương thơm được tích chứa trong những quả café ngọt ngào. Mặc dù hạt café có trọng lượng trung bình nhưng café Kenya hầu như luôn có kích thước rất tuyệt. Cảm giác như luôn văng vẳng như tiếng chuông hơn là xét về khẩu vị của nó. Một số café Kenya mang màu sắc của quả chín mộng và mùi vị hổn hợp của cam, quít. Mùi vị chính mang hổn hợp của café Kenya được một số người mua đặc biệt thừa nhận. Cuối cùng thì ly café Kenya bao giờ cũng được uống cạn. Song có một số café hỏng của những nơi khác cũng ít nhiều làm ảnh hưởng đến café Kenya.

Cũng như nhiều vùng trồng café khác, Kenya bị đánh lừa bởi những người mua với mục đích để giới thiệu các loại giống lai mới của café Arabica, mặc dù các giống café này cũng đã rất thành công nhưng theo người mua thì chúng không ngon bằng các loại giống cũ như giống Sl28, ngành công nghiệp sản xuất café của Kenya được hình thành nhờ vào loại giống này. Có lẽ những lơi chỉ trích đó đặc biệt dữ dội trong trường hợp của café Kenya bởi lẽ chúng ta sợ phải mất đi một loại café ngon nhất này.
 
Café có xuất xứ từ Châu Phi và Ả Rập: Uganda.

Uganda nằm trong khu hồ lớn ở Trung Phi, vùng thượng nguồn của sông Nile, đây là nước xuất xứ của loại café Canephosa hay Robusta. Điểm chủ yếu trong quy trình sản xuất café ở đây là café sau khi đã được phơi sấy xong sẽ được đưa vào máy pha chế café cùng với một chút phụ liệu khác. Uganda cũng sản xuất loại café Arabica hảo hạng nhưng hầu hết chỉ trồng trên những lô đất nhỏ của người dân địa phương.
Café có tên Wagar thìđược trồng trên dãy núi biên giới Zaire ằm dọc biên giới phía Tây của Uganda. Nhãn hiệu mà nhiều người biết đến hơn đó là Buyishu được trồng ở vùng Mt.Elgon trên biên giới Kenya. Bugisai là loại café Châu Phi khác có mang mùi vị hổn hợp của trái cây và rượu , đây cũng là loại café sơ chế của café Kenya.
 
Café khác đến từ Châu Phi và Ả Rập: Tanzania

Hầu hết cà phê Arabica của Tanzania điều được trồng trên các cánh đồng trên núi Mt.Kilimanjaro và núi Meru gần biên giới Kenyan. Những loại cà phê này có tên là cà phê Kilimanjaro hoặc thỉnh thoảng được gọi với tên Moshi hay cà phê Arusha sau tên của tỉnh trồng hoặc cảng vận chuyển chúng. Một số ít cà phê Arabica còn được trồng ở miền Nam, giữa hồ Tanganyika và hồ Nyasa và được gọi với tên cà phê Mbeya sau tên của tỉnh trồng loại cà phê này hoặc dưới nhãn hiệu Pare, một cái tên thị trường. Trong tất cả mọi trường hợp thì đẳng cấp cao nhất của cà phê là mức AA, sau đó là loại A và B. Từ trước tới nay, loại cà phê Tanzania được bán nhiều nhất ở Mỹ là Peabesy, đây là loại cà phê mà hạt của nó chỉ là một khối thống nhất chứ không phải loại hạt hai mảnh.
 
Hầu hết các loại cà phê của Tanzania đều mang đặc điểm về hình dáng và tính chua của hai loại cà phê Châu Phi và cà phê Ả Rập. Những loại cà phê này có xu hướng hạt có kích cỡ vừa và đầy đặn cùng với mùi vị khá thơm và mịn giống như hương vị của cà phê Ethiopia.
 
Café khác đến từ Châu Phi và Ả Rập: Burundi

Nằm giữa Janzania và Congo ở Trung Phi, Burundi là một thuộc địa mới của Mỹ. Café của quốc gia này được trồng trên những mảnh ruộng nhỏ trong các ngôi làng ở phía Bắc Burundi và sẽ được chế biến tại các xưởng chế biến nhỏ. Café được bán trong các cuộc đấu giá được tổ chức giống như các cuộc đấu giá café tại Kenya. Burundi cũng là một trong những nuớc trồng café mà không sử dụng đến hoá chất. Và hầu hết café được trồng trong bóng râm. Hay nhất là café vẫn mang mùi thơm và vị hơi chua của loại café Đông Phi không bị hư trong suốt quá trình sấy, bảo quản cũng như vận chuyển.
 
Café khác đến từ Châu Phi và Ả Rập: Tanzania

Hầu hết café Arabica của Tanzania đều được trồng trên các cánh đồng trên núi Kilimsnfaro và núi Meru gần biên giới Kenya. Những loại café này có tên là café Kilimsnfaro hoặc thỉnh thoảng được gọi với tên Moshi hay café Arurha sau tên của tỉnh trồng hoặc cảng vận chuyển chúng. Một số ít café Arabica còn được trồng ở miền Nam, giữa hồ Tanganyika và hồ Nyesa và được gọi với tên café Mbeya sau tên của tỉnh trồng loại café này hoặc dưới nhãn hiệu pare. Trong tất cả mọi trường hợp thì đẳng cấp cao nhất của café là mức AA, sau đó là loại A&B. Từ trước tới nay, loại café Tanzania được bán nhiều nhất ở Mỹ là peabesy, đây là loại café mà hạt của nó chỉ là một khối thống nhất chứ không phải loại hạt hai mảnh.(culi, bi –Vietnam-ngườI dịch)

Hầu hết các loại café của Tanzania đều mang đặc điểm về hình dáng và tính chua của hai loại café Châu Phi và café Ả Rập. Những loại café này có xu hướng hạt có kích cỡ vừa và đầy đặn cùng với mùi vị khá thơm và mịn giống như hương vị của café Etiopia.
 
Café khác đến từ Châu Phi và Ả Rập: Malawi.

Malawi là một nước nhỏ mà biên giới của nó đi qua trục biên giới Bắc Nam giữa Mozambi và Zambia ở miền Đông Nam Châu Phi. Các loại café đặc biệt của Malavi hiện nay được bán tại Bắc Mỹ là đều được sản xuất ở đây. Những loại café Malavi này thơm hơn và mịn hơn café Đông Phi, chúng ngọt, ngon và có màu hơi nhạt.
 
Café Châu Phi và Ả Rập: Zambia.

Café Zambia xuất hiện trong các cửa hàng ở Bắc Mỹ hiện nay là được sản xuất ở những cánh đồng lớn. Loại café nổi tiếng nhất ở đây là café Terranova và Kapinga. Điểm ngon nhất của loại café này là: chúng là loại café theo truyền thống Đông Phi: hạt vừa, thơm với vị hỗn hợp của rượu vang và có vị hơi chua.
 
Café Châu Phi và Ả Rập: Zimbabwe.

Zimbabwe trước đây là kho desia đã và đang xuất khẩu loại café hảo hạng sang Mỹ trong nhiều năm nay. Loại café đã qua chế biến được trồng ở những nông trại vừa và lớn, chủ yếu là ở vùng núi Chipinge ở miền Đông Zimbabwe, nằm ở biên giới Modambit. Nó có một chút khác biệt trong vị chua với những loại café có pha một chút rượu vang của vùng Đông Phi. Một số nhà nhập khẩu xếp Zimbabwe vào nhóm café Kenya ngon nhất, loại café mà tôi đã từng được nếm thử cách đây vài năm không mấy đậm đà nhưng chúng có kích cỡ vừa phải, mang vị hổn hợp của rượu vang với vị quả chín theo kiểu café của người Mỹ. Loại café ngon nhất có cấp độ là AA. Smaldeel và Lalucie hiện nay là hai loại café được yêu thích nhất.
 
Hai loại café này được bóc ra khỏi vỏ và phơi trên mái nhà và chúng cũng được tiêu thụ nhiều như khi chúng vừa xuất hiện trên thị trường thế giới vào thế kỷ 17. Cả hai loại này mang nhiều hương vị thật phức tạp và thu hút với hương thơm nhẹ nhàng của các loại trái. Và những người thích uống café ngày nay cảm thấy thật hấp dẫn và quyến rũ như người mới bắt đầu tập uống café bị lạc vào ngôi nhà café mới ở Vinice và Vienna.
 
 Theo: xcafe.com.vn