Blogger Widgets

cần tuyển nhân viên kinh doanh

tại các tỉnh phía bắc 
lương thoả thuận 
LH-0936323896

Nguồn vốn cho tái canh cà phê đã sẵn sàng đợi xuất

Theo tính toán, để tái canh một ha cà phê, các nông hộ và doanh nghiệp cần từ 120-150 triệu đồng. Như vậy, để tái canh 126.000 ha (25%) cà phê già cỗi, cần khoản kinh phí ít nhất lên đến trên 15.000 tỷ đồng.





tai canh ca phe

Nếu chỉ trông chờ vào nguồn vốn tự có của các hộ gia đình và doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh cà phê thì chắc chắn việc tái canh sẽ khó có thể triển khai được.
Ngân hàng Nhà nước sẽ hỗ trợ Agribank bằng nguồn tái cấp vốn cho cả vùng Tây Nguyên để có thể đưa lãi suất cho vay thấp hơn mức lãi suất cho vay thương mại trung và dài hạn thông thường 2%/năm.
Lãnh đạo Agribank cho biết, từ tháng 5/2013, Agribank đã phối hợp với tỉnh Lâm Đồng và Đăk Lăk ký kết đầu tư tín dụng tái canh cây cà phê giai đoạn 2013-2015 với gói vốn lãi suất ưu đãi 6.100 tỷ đồng (3.100 tỷ đồng dành cho Lâm Đồng, 3.000 tỷ đồng dành cho Đăk Lăk).

“Trẻ hóa” một vùng đất

Trong những ngày cuối năm, chúng tôi có dịp về Đăk Lăk và Lâm Đồng để tìm hiểu về việc tái canh cà phê. Tại đây, nhiều gia đình đang ráo riết thực hiện chủ trương lớn của Nhà nước là bắt tay vào việc thực hiện việc tái canh cà phê.
Có gia đình thì chặt những vườn cà phê già cỗi ít hiệu quả, có những gia đình đã trồng mới cây cà phê được vài tháng tuổi. Tất cả đều rất khẩn trương.
Chúng tôi có mặt tại xã Phú Sơn, huyện Lâm Hà tỉnh Lâm Đồng, bà con đang hối hả “thay da, đổi thịt” cho vùng đất nơi đây.
Ông Nguyễn Minh Trung, Chủ tịch xã Phú Sơn, huyện Lâm Hà phấn khởi kể: Tổng diện tích cà phê của xã là 4.530 ha, sản lượng thu hoạch 2,6 tạ/ha với 1.968 hộ trồng cà phê. “Hầu hết bà con đều đăng ký tái canh vì cà phê nơi đây hiện cằn quá rồi.
Rất nhiều chỗ cà phê thuộc đồn điền từ thời Pháp. Tuy nhiên, cái khó là nhiều hộ nông dân vướng trong quyền sử dụng đất nên rất khó để có sổ đỏ thế chấp vay vốn,” ông Trung cho biết.
Hiện tái canh cà phê là một trong những nhiệm vụ quan trọng của xã Phú Sơn, trong đó riêng 2 năm 2012 – 2013 xã đã tái canh được khoảng 230 ha. Dự kiến năm 2014 – 2015, diện tích tái canh cà phê của xã sẽ tăng nhanh khi người trồng cà phê được tiếp cận với nguồn vốn vay từ ngân hàng.
Để minh chứng thêm cho hiệu quả của những hộ dân đã được rót vốn tái canh, các cán bộ của Agribank Lâm Đồng và cán bộ xã đã dẫn chúng tôi đi sâu vào một vùng đất vốn là đồn điền cà phê khi trước. Xe dừng trước cửa căn nhà của gia đình ông Trần Văn Sương ở thôn Ngọc Sơn 1, xã Phú Sơn, huyện Lâm Hà.
Ông Sương tiếp chúng tôi bằng những bộ bàn ghế được chế tác từ những gốc cà phê cổ thụ đã bị đốn bỏ do già cỗi, không còn khả năng khai thác. Bên cạnh đó, một số bộ bàn ghế khác đang được hoàn thiện, đánh bóng, chờ giao cho khách.
“Vừa rồi tôi quyết định vay của Agribank 120 triệu đồng, để mua 900 gốc cà phê Robusta và 900 cây cà phê Catimor. Lãi vay 10,5% năm với thời gian vay 7 năm trả lãi hàng tháng, gốc chia ra trả. Nói chung, tôi tự tin với phương pháp giống kỹ thuật mới, nếu được đầu tư vườn cà phê sẽ được trẻ hóa và hồi sinh năng suất cao,” ông Sương nói.
Với cách tính toán của một người trồng cà phê có kinh nghiệm, ông Sương không tái canh vườn cà phê đồng loạt mà làm theo cách “cuốn chiếu”.
Ông Sương chỉ cho chúng tôi khu vườn hơn 1 ha diện tích cà phê mà ông đã trồng tái canh được gần 1 năm, xen lẫn là các loại cây đậu tương và cây ngô, cây bơ.
“Với cách làm này, gia đình tôi không bị hẫng hụt về kinh tế mà vẫn có nguồn thu quanh năm, vừa ổn định thu nhập gia đình, vừa có điều kiện để đầu tư tái canh toàn bộ diện tích cà phê theo kế hoạch,” ông Sương cho biết.
Cũng khẩn trương như các hộ dân ở tỉnh Lâm Đồng, chúng tôi có mặt tại vườn cà phê gia đình ông Bùi Văn Tân, thuộc nông trường huyện ủy xã Ealai, huyện Madrak.
Vườn cà phê của ông Tân hiện không còn nhiều, thay cho những gốc cà phê già tuổi đời đã tới vài chục năm, ông Tân đang làm mới thay bằng những cây cà phê mới được vài tháng tuổi và những cọc trồng tiêu đang xanh ngút ngàn.
“cà phê già cằn cho năng suất thấp quá, chỉ hơn tạ/ha nên tôi quyết định sẽ thay,” ông Tân nói và thừa nhận tại vùng đất này, cây tiêu có sức sống hợp đất hơn nên chỉ dùng một phần đất trồng lại cà phê, còn lại là trồng tiêu.

Vẫn cần hơn sự thông thoáng từ chính sách

Ông Phạm Văn Cang, Phó Giám đốc Agribank chi nhánh Đăk Lăk cho biết, Ngân hàng cung ứng vốn theo nhu cầu của các doanh nghiệp, hộ nông dân, cá nhân, chủ trang trại trồng và chăm sóc cà phê; doanh nghiệp cung ứng dịch vụ nông nghiệp như thu mua, chế biến, xuất khẩu, vật tư phục vụ cho sản xuất… với cơ chế lãi suất ưu đãi.
Theo ông Cang, thứ nhất, lãi suất cho vay ưu tiên và giảm từ 2-2,5% so với mức lãi suất cho vay thông thường. Thứ hai, căn cứ vào định mức đầu tư, định mức kinh tế kỹ thuật của Bộ Nông nghiệp đã xây dựng, ngân hàng cho vay đến 70% nhu cầu vốn trong tổng mức đầu tư tái canh 1ha cà phê.
Có trường hợp đầu tư theo công nghệ cao, tưới tự động, giống và quy trình chăm sóc hiện đại, cây che bóng mát… được vay 80% nhu cầu vốn.
Còn ông Nguyễn Ngọc Sanh, Phó Giám đốc Agribank Lâm Đồng cũng cho biết: Xác định tín dụng cà phê là chương trình trọng tâm 2013-2015, ngân hàng đã nỗ lực hết sức để chủ động cùng với chính quyền, nhân dân bắt tay vào thực hiện.
“Chúng tôi đã yêu cầu các chi nhánh khảo sát từ đó xây dựng bản đồ chi tiết tái canh cà phê đến từng đơn vị hành chính, thôn bản. Trên cơ sở tổng hợp những vướng mắc, Agribank Lâm Đồng đã có văn bản gửi đến Hội sở chính đề xuất một số vấn đề như nguồn tái cấp vốn, áp dụng lãi suất ưu đãi cho các khoản vay,” ông Sanh nhấn mạnh.
Tuy nhiên, một số hộ gia đình cũng kiến nghị, việc tái canh cà phê cần rất nhiều vốn, mặc dù Ngân hàng đã tạo điều kiện hết sức cho các hộ dân nhưng một suất vay của gói tín dụng này chỉ ở mức 50 triệu đồng/ha, quá ít so với suất đầu tư thực tế.
Điều này cũng là trăn trở của lãnh đạo Agribank Lâm Đồng, ông Sanh cho biết, hiện diện tích cà phê ở Lâm Đồng chủ yếu là đất lâm nghiệp nên chưa có sổ đỏ, chính vì vậy rất khó để cho vay vốn. Tuy nhiên, Ngân hàng đã mạnh dạn “vượt rào” cho các hộ dân vay bằng cách, ngoài đối tượng vay không có tài sản bảo đảm theo Nghị định 41, khách hàng vay vốn có tài sản hình thành từ vốn vay là vườn cà phê.
Trường hợp đã dùng toàn bộ tài sản thế chấp cho ngân hàng nhưng vẫn không đủ, Agribank Lâm Đồng sẽ xem xét cho vay một phần không có tài sản bảo đảm. Thời gian giải quyết cho vay sẽ rút ngắn bằng một nửa so với quy định.
Theo ông Sanh, để đáp ứng đầy đủ nhu cầu vay vốn của khách hàng thực hiện tái canh cà phê, ngoài nguồn vốn tự huy động Agribank Lâm Đồng cần có sự hỗ trợ tái cấp vốn với lãi suất thấp từ Ngân hàng Nhà nước.
Tuy nhiên, đến nay, mặc dù đã triển khai chương trình nhưng chi nhánh vẫn đang thực hiện tạm ứng từ nguồn vốn với lãi suất tương đối cao của mình.
Nhưng lãnh đạo Agribank Lâm Đồng và Đăk Lăk đều cam kết sẽ sẵn sàng dành nguồn vốn dài hạn để đáp ứng đủ nhu cầu vốn cho vay tái canh cây cà phê, đảm bảo đáp ứng đủ cho tất cả doanh nghiệp, hộ nông dân và cá nhân vay vốn.

Các tỉnh Tây Nguyên tập trung “cải lão” vườn cà phê

Tổng diện tích cà phê của cả nước hiện vào khoảng 600.000 ha (diện tích cà phê cho thu hoạch là trên 500.000 ha), chủ yếu tập trung tại các tỉnh Tây Nguyên, hiện Đăk Lăk đứng đầu cả nước về diện tích cà phê với 200.000 ha, Lâm Đồng đứng thứ hai với 151.000 ha.
 Theo thống kê, hiện có tới 25 – 30 % diện tích cà phê già cỗi cho năng suất thấp, cần phải trồng tái canh.
Việc tái canh không hề đơn giản khi nguồn lực có hạn, kỹ thuật, cây giống và đặc biệt là vấn đề thiếu vốn nên diện tích tái canh hàng năm không nhiều.
Tuy nhiên, trong thời gian tới, kinh phí cho việc tái canh không còn là rào cản nữa. Ngân hàng Nhà nước đã cam kết với Ban Chỉ đạo Tây Nguyên dành một gói tín dụng cho chương trình này.
Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước đã lựa chọn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) là đơn vị chủ lực triển khai gói tín dụng cho vay tái canh cây cà phê từ 8.000 – 10.000 tỷ đồng, thực hiện từ nay đến năm 2016.
Tái canh vườn cà phê
Vườn cà phê tái canh năm thứ nhất
 Bài 1: Thay vườn càphê già cỗi để hồi sinh một vùng đất
Tái canh cà phê là chủ trương lớn của Chính phủ nhằm cải tạo lại vùng đất trồng cà phê lâu đời cằn cỗi của các tỉnh Tây Nguyên để nâng cao năng suất, chất lượng cà phê xuất khẩu từ đó cải thiện đời sống bà con.
Tái canh là việc làm cấp thiết

Theo Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên, trong những năm qua ngành cà phê Việt Nam đã có những bước phát triển rất nhanh về diện tích, năng suất và sản lượng. Năm 1980, cả nước chỉ có 22,5 ngàn ha, năng suất bình quân 0,78 tấn/ha với sản lượng 8,4 ngàn tấn, nhưng đến nay cả nước đã có gần 600 ngàn với năng suất bình quân 2 tấn/ha.
Sự phát triển nhanh về diện tích, năng suất, sản lượng đã đem lại lợi ích to lớn cho sự phát triển kinh tế-xã hội của khu vực Tây Nguyên và người trồng cà phê.
Tuy nhiên, thực tế phát triển cây cà phê ở Việt Nam trong thời gian qua đặt ra nhiều vấn đề bức xúc cần giải quyết nhằm bảo đảm cho sự phát triển bền vững của cây cà phê và nâng cao thu nhập cho người trồng cà phê.
Đó là, sự phát triển diện tích cà phê không theo quy hoạch và không kiểm soát được dẫn đến sự suy giảm nguồn nước, gia tăng nạn phá rừng tác động xấu đến môi trường và đe dọa chính sự phát triển bền vững của cây cà phê.
Bên cạnh đó, diện tích cà phê già cỗi, những vườn cây có độ tuổi trên 20 năm, sinh trưởng kém, năng suất thấp (dưới 1,5 tấn/ha) và không có khả năng cưa đốn phục hồi hay ghép cải tạo, chiếm tỷ lệ cao.
Nếu không có kế hoạch và tổ chức thực hiện tốt chương trình tái canh, đến năm 2020 phần lớn diện tích cà phê Việt Nam sẽ bước sang giai đoạn giã cỗi.
Theo TS Lê Ngọc Báu, Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên, đời sống cây cà phê có thể kéo dài hàng trăm năm, nhưng giai đoạn sung sức nhất chỉ từ năm thứ 5 đến năm thứ 15.
Trên 25 năm cây cà phê sẽ già cỗi, năng suất thấp, sức đề kháng thấp, sâu bệnh sẽ phát triển. Tuổi thọ cây cà phê ở ta thấp hơn thế giới vì được đầu tư thâm canh, tăng năng suất cao quá.
Ðặc biệt, khi giá cà phê lên cao, để đạt năng suất tối đa, người sản xuất sử dụng phân hóa học, nước tưới và thuốc bảo vệ thực vật cao hơn mức khuyến cáo, trong khi ít bón hoặc không bón phân hữu cơ, tiết giảm hoặc loại bỏ cây che bóng để tăng mật độ cà phê.
Hậu quả của tình trạng thâm canh quá mức đó đã làm cho vườn cà phê nhanh xuống cấp, sâu bệnh gia tăng, chi phí và giá thành tăng cao, mức độ rủi ro cũng lớn khi mất mùa hoặc giá thành hạ, nguồn nước tưới và đất trồng nhanh chóng thoái hóa.
Vì vậy, diện tích cà phê già cỗi đang là mối đe dọa đến sự ổn định của ngành cà phê Việt Nam, chính vì vậy việc tái canh vườn cà phê đang trở nên cấp thiết.
Cái khó vẫn “bó” tái canh

Chương trình tái canh cà phê đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT và các bộ ngành đốc thúc triển khai nhưng để làm “trẻ hóa” lại vùng đất cà phê này cần một lượng tín dụng không nhỏ bơm vào.
Ông Nguyễn Văn Thạnh ở H.Krông Păk (Đăk Lăk) cho biết, gia đình ông có 2 ha cà phê gần 30 năm tuổi, năng suất chỉ còn khoảng 1,2 tấn/ha, muốn phá bỏ để trồng lại cà phê nhưng tính ra mất 5-6 năm mới cho thu nhập.
“Nếu không cải tạo đất thì nguy cơ sâu bệnh rất cao, còn cải tạo thì mất hai đến ba năm mới có thể trồng lại cà phê. Hơn nữa, để tái canh, chi phí mỗi ha mất hàng trăm triệu đồng nên gia đình tôi thấy chưa kham nổi,” ông Thạnh thổ lộ.
Khá nhiều hộ trồng cà phê trong vùng cũng chần chừ như ông Thạnh trước viễn cảnh tốn kém nhưng lại mất nguồn thu nhập trong mấy năm liền, buộc phải “gắn bó” với vườn cà phê già cỗi.
Theo Tiến sĩ Lê Ngọc Báu việc tái canh cà phê gặp khó, chủ yếu là vì việc này cần ít nhất 2 năm cải tạo đất và 3 năm kiến thiết cơ bản. Trong khi đó, nông dân không muốn chờ đợi, vì như vậy bà con bị cắt đứt thu nhập trong thời gian quá dài. Nông dân nóng vội dẫn đến kết quả thất bại 88 %.
Ông Nguyễn Văn Sơn, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Lâm Đồng cũng cho rằng, nếu không trồng luân canh mà để cho đất nghỉ từ 2-3 năm thì cuộc sống của người dân sẽ rất khó khăn, còn nếu trồng lại ngay thì tỷ lệ cây sống chỉ đạt khoảng 70 – 80 %, nhưng đến năm thứ ba còn 40 % và đến năm thứ tư, thứ năm thì chỉ còn lại 20 % số cây sống sót.
Thậm chí, nhiều cây trong số này sau đó lại tiếp tục nhiễm bệnh từ các mầm bệnh của vườn cà phê trước còn lại trong đất chưa được xử lý hết nên lại mau chóng già cỗi, năng suất thấp.
Như vậy, để đảm bảo tái canh cà phê thành công, nông dân cần chờ đợi ít nhất 5 năm, thất thu ít nhất 150 triệu đồng/ha. Cùng với đó, vốn đầu tư cho các khâu cày bừa, cây giống, phân bón, chăm sóc… trong 3 năm/ha cà phê tái canh, có thể lên đến hơn trăm triệu đồng. Vừa bị hụt thu, vừa phải đầu tư thêm là khó khăn lớn, nông dân khó vượt qua.

Câu chuyện cà phê robusta và arabica


Ai cũng biết Brazil là nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới, nhưng đứng thứ hai là nước nào? Câu trả lời có vẻ khá bất ngờ đó chính là Việt Nam.
Câu chuyện cà phê robusta và arabica
Câu chuyện cà phê robusta và arabica
Tờ Finacial Times mới đây đăng bài viết với những tranh luận khá thú vị xung quanh 2 loại cà phê robusta và arabica. Tác giả bài viết là một chuyên gia hàng đầu về phân tích hàng hóa thuộc VM Group, một Công ty tư vấn nghiên cứu hàng hóa tại London. 
Brazil đứng nhất, Việt Nam đứng nhì
Ai cũng biết Brazil là nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới, nhưng đứng thứ hai là nước nào? Câu trả lời có vẻ khá bất ngờ đó chính là Việt Nam.
Brazil và Việt Nam chiếm đa số sản lượng cà phê của thế giới, đặc biệt đây còn là 2 quốc gia lớn cung cấp chủ yếu 2 loại cà phê chính gồm Arabica và robusta. Brazil là nước sản xuất cà phê Arabica lớn nhất thế giới, trong khi đó Việt Nam lại đứng đầu về sản xuất cà phê robusta.
Mỗi người có một sở thích riêng, người thích cà phê Arabica, có người lại thích cà phê robusta, song với giới mê cà phê thực thụ, Arabica có lẽ là lựa chọn hơn cả.
Cũng giống như bất cứ mặt hàng nào khác, quan hệ cung – cầu là yếu tố quyết định đối với giá cả. Do vậy, giá arabica cao hơn cho thấy nhu cầu đối với loại cà phê này cũng cao hơn so với robusta. Thực tế, chỉ có 2 loại cà phê chính là robusta và Arabica, nhưng từ 2 loại này, người ta có thể được chế biến thành nhiều loại khác nhau với chất lượng cũng khác nhau.
Tại sao arabica lại được ưa chuộng hơn robusta?
Điều này phụ thuộc vào vị giác riêng của từng người. Arabica được đánh giá là có hương vị ngon hơn, ít chát, nhưng lại đắng hơn so với robusta. Nhiều người thích uống loại cà phê hòa tan robusta, nhưng khi chuyển qua uống arabica, thì đa số họ lại không muốn dùng robusta nữa.
Robusta có thể xem là loại cà phê có phẩm chất kém hơn, tuy nhiên nó có ưu thế hơn đó là rất hợp thời tiết. Thông thường, loại cà phê này sẽ cho thu hoạch sau 2-3 năm, trong khi cà phê arabica phải cần 4-5 năm.
Cây cà phê arabica cũng là một loại cây khó tính và khá nhạy cảm với khí hậu, nó đòi hỏi nhiệt độ và lượng mưa trung bình hàng năm phải đúng tiêu chuẩn mới cho thu hoạch cao. Trong khi đó, cây cà phê robusta lại có thể thích ứng với nhiều loại điều kiện môi trường khác nhau.
Điều kiện thời tiết tác động đến năng suất cây trồng
Sản lượng cà phê trung bình hàng năm của thế giới được tính theo 2 cách đó là: tính theo bao – thông thường 60kg/bao, hoặc tính theo tấn.
Sản lượng cà phê arabica trong giai đoạn 2010 – 2011 được dự báo đạt 86 triệu bao, đáp ứng nhu cầu 80 triệu bao, còn với cà phê robusta, lượng cung là 54 triệu bao, cầu là 51 triệu bao.
Sự gia tăng nhu cầu đối với cà phê gần như không bị ảnh hưởng bởi cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu, hay nói cách khác, người ta vẫn không chịu, không muốn từ bỏ thứ đồ uống ưa thích hàng ngày của mình. Mặt khác, tốc độ tăng này cũng có xu hướng chậm lại, trung bình khoảng từ 1-1,5%/năm.
Ngành sản xuất cà phê hiện vẫn đóng vai trò quan trọng đối với nhiều thị trường mới nổi trên thế giới. Ngoài Việt Nam, các nước sản xuất cà phê robusta lớn bao gồm Brazil, Indonesia, Ấn Độ và Uganda. Colombialà nước sản xuất cà phê arabica lớn thứ hai thế giới chỉ sau Brazil. Ngoài ra, các nước Trung Mỹ cũng là các nước sản xuất cà phê lớn.
Thời tiết đóng một vai trò quyết định đến năng suất cây trồng, mà sự vụ gần đây ở Colombia có thể xem là một ví dụ điển hình về hậu quả do thời thiết xấu gây ra.
Hai vụ trước, sản lượng cà phê của nước này vẫn đứng ở mức cao 12 triệu bao, tuy nhiên, trận mưa lớn vào cuối năm 2008 đã gây trở ngại lớn đối với việc thu hoạch, và vận chuyển cà phê. Do đó, sản lượng xuất khẩu của Colombia đã giảm 1/3. Đồng thời giá cà phê arabica Colombia cũng tăng mạnh do các hãng chế biến buộc phải tìm kiếm các nguồn nguyên liệu thay thế để đảm bảo chất lượng.
Brazil lại là một nước thường xuyên chịu ảnh hưởng của thời tiết sương giá vào mùa đông kéo dài từ tháng 6 đến tháng 8, và điều này làm cho giá cà phê arabica càng cao hơn.
Tuy nhiên, tình trạng trên đã có xu hướng giảm trong những năm gần đây, kể từ đầu thập niên 19, không xảy ra vụ sương tàn phá nghiêm trọng; Một phần là bởi thị trường tiêu thụ có dấu hiệu tạm lắng; một phần là vì hoạt động trồng cà phê đã được mở rộng ra các vùng khác của Brazil ít chịu ảnh hưởng của thời tiết khắc nghiệt mùa đông.
Việt Nam được lợi nhờ thời tiết
Những năm gần đây, mùa mưa diễn ra khá đều đặn, do vậy, việc Việt Nam quyết định phát triển loại cà phê robusta thay vì loại arabica (mặc dù sau này Việt Nam cũng có sản xuất một lượng nhỏ loại cà phê này) là hoàn toàn đúng đắn, bởi trồng cà phê robusta cũng đơn giản như chính cái tên của nó “robust” – khỏe mạnh.
Trong tương lai, cung – cầu và giá cả cà phê sẽ ra sao? Sự nóng lên của trái đất – một mối quan tâm lớn hiện nay của toàn nhân loại sẽ là một mối đe dọa lớn, đặc biệt là đối với cà phê Arabica – loại cây ưa thời tiết mát mẻ, song cũng không thể thích ứng với nhiệt độ quá thấp.
Tuy nhiên, đây không chỉ là mối đe dọa riêng đối với loại cà phê này, mà đó cũng là một hiểm họa lớn đối với triển vọng của rất nhiều sản phẩm nông nghiệp khác.
Trong dài hạn, khi cung không thể đáp ứng cầu, sẽ khiến giá leo thang. Hiện vẫn chưa xảy ra tình trạng này, song thời điểm khi mà giá cả hàng hóa có thể “giảm nhiệt” nhờ các công nghệ tăng cường sản lượng thì vẫn còn rất xa.
Sự trỗi dậy của Việt Nam
Thập niên 19, Việt Nam hầu như không sản xuất cà phê. Tuy nhiên, thời gian gần đây, Việt Nam đã nhanh chóng vươn lên vị trí hàng đầu về sản xuất loại mặt hàng này.
Động cơ để trở thành nước sản xuất cà phê robusta lớn trên thế giới chính là từ quyết định của Đảng nhằm mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách triệt để.
Các chính trị gia Việt Nam đã nhận ra cơ hội ở thị trường sản xuất kinh doanh cà phê hòa tan. Đây là một ngành phát triển khá nhanh. Do vậy, Việt Nam đã tăng cường hỗ trợ các nhà máy sản xuất cà phê trong nước.
Tuy nhiên, cà phê sau khi được sản xuất chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ ở thị trường bên ngoài, mà tại đây loại đồ uống chính vẫn là trà.
Trái lại, khoảng 50% sản lượng cà phê arabica của Brazil được tiêu thụ trong nước, đặc biệt mức tiêu thụ nội địa đang có xu hướng tăng mạnh so với mức tiêu thụ trung bình của thế giới.

Mắc – ca lợi bất cập hại


Mắc – ca là loại cây trồng mới xuất hiện trên địa bàn tỉnh Dak Lak trong thời gian gần đây, đang hứa hẹn đem đến nguồn lợi kinh tế cao cho người trồng. Tuy nhiên, nếu phát triển tràn lan, thiếu quy hoạch loại cây này sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Hiện nay, nhiều nhà vườn trong tỉnh đang tăng cường ươm, ghép giống cây mắc- ca để đáp ứng nhu cầu mua khá cao của người dân.
Năm 2004, Phòng NN-PTNT huyện Krông Năng phối hợp với Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng Việt Nam lần đầu tiên tiến hành trồng thử nghiệm mô hình cây mắc ca xen với cà phê tại một nông hộ ở xã Phú Lộc.
Từ đó đến nay, cây mắc ca cũng được nhiều đơn vị chức năng như Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên, Trung tâm giống cây trồng tỉnh… trồng thử nghiệm nhiều nơi trên địa bàn tỉnh và bước đầu cho hiệu quả khá tốt, đặc biệt là tại 2 huyện Krông Năng và Krông Ana, năng suất bình quân đạt khoảng 5 kg hạt/cây.
Qua quá trình thử nghiệm trên cho thấy, đây là loại cây thích nghi khá tốt với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu của nhiều vùng trong tỉnh, khả năng chịu hạn tốt, dễ chăm sóc, ít sâu bệnh… từ khi trồng đến lúc thu hoạch khoảng 4 năm. Trên thị trường thế giới, loại nông sản này có giá dao động từ 1,5- 2 USD/kg hạt, như vậy, theo tính toán, với năng suất bình quân 3 tấn hạt/ha, thì mỗi năm, 1ha mắc ca sẽ cho thu nhập khoảng 6.000 USD, cao hơn trồng cà phê từ 1.500 – 2.000 USD/ha.
Hiện nay, việc nghiên cứu, lai tạo và nhân giống cây mắc ca bảo đảm chất lượng (theo tiêu chuẩn của Bộ NN-PTNT Việt Nam) nhằm chủ động nguồn cây giống tại chỗ (vùng Tây Nguyên) chỉ mới được Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên thực hiện (đến nay vẫn chưa có kết quả chính thức).
Vì lẽ đó, ngành Nông nghiệp Dak Lak còn khá do dự, chưa có chủ trương đưa mắc ca trồng đại trà trên địa bàn. Trong khi đó, do nhận thấy lợi nhuận cao từ loại cây này nên không ít hộ dân trong tỉnh đang đua nhau chặt bỏ những diện tích cà phê già cỗi, vườn cây ăn quả…, đầu tư mua cây giống về trồng với mơ ước đổi đời.
Có “cầu” ắt có “cung”, nhiều chủ vườn ươm cây giống trên địa bàn tỉnh cũng rập rịch lai ghép, nhân giống mắc ca đáp ứng lượng mua đông đảo của người dân, chưa kể, chủ vườn còn tự tạo nên “cơn sốt” đẩy giá cây giống lên cao, từ 30.000- 50.000 đồng/cây.
Theo các chuyên gia nông nghiệp, hiện nay giống mắc ca ngoài thị trường khá đa dạng, nhưng hầu hết đều không rõ nguồn gốc, xuất xứ, không ít nhà vườn còn chạy theo lợi nhuận lai ghép những loại cây kém chất lượng, ghép giả (cây thực sinh được cắt nhẹ lớp vỏ trên thân và dùng nilon buộc lại tạo mắt ghép giả) khiến người dân rất khó nhận biết. Đôi khi chính bản thân những chủ vườn ươm cũng không thể chắc chắn chất lượng cây giống mà mình sản xuất ra như thế nào!
Tuy chưa có số liệu thống kê đầy đủ về diện tích mắc ca mà người dân đang trồng tự phát trên toàn tỉnh, song qua tìm hiểu được biết, diện tích cây trồng này hiện không dưới 60 ha (kể cả trồng độc canh và xen với cà phê hay cây trồng khác), tập trung nhiều nhất là ở các huyện Krông Năng, Krông Ana, Cư Kuin, Krông Buk…
Thời gian này, đi đến nhiều cơ sở ươm, bán cây giống trong tỉnh đều dễ thấy, cây mắc ca giống bán rất chạy, nhiều chủ vườn ươm còn ra tỉnh ngoài tìm mua hạt mắc ca (giá từ 90.000- 100.000 đồng/kg) về ươm nhằm đáp ứng nhu cầu cây giống cho người dân. Anh Vinh, một chủ vườn ươm cây giống tại đường Nguyễn Lương Bằng (xã Hòa Thắng, TP. Buôn Ma Thuột) khẳng định: Bình quân mỗi ngày cơ sở của anh bán được khoảng 100 cây mắc ca giống, mà khách hàng chủ yếu là người dân mua về trồng.
Ông Lê Đình H. ở thị trấn Buôn Trấp (huyện Krông Ana) trồng độc canh gần 2 ha mắc ca, nhưng khi hỏi về nguồn gốc cây giống thì ông tỏ ra lúng túng: Người ta bán thì ông mua về trồng thôi chứ nói nguồn gốc, xuất xứ, chất lượng cây giống thế nào thì ông… không biết! Không chỉ ông H. mà hầu hết các hộ dân trong tỉnh đang chạy đua trồng mắc ca hiện nay cũng đều mua cây giống theo dạng trôi nổi như vậy. Anh Y Doan, xã Ea Tul, huyện Cư M’gar thấy nhiều bà con ở địa phương trồng mắc ca nên anh cũng mua 250 cây về trồng xen với vườn cà phê, nhưng như anh bộc bạch: Trồng theo phong trào vậy thôi, chứ không biết hiệu quả ra sao và sản phẩm sau này bán cho ai (!?).
Trước dấu hiệu phát triển tràn lan cây mắc ca trong dân, không ai biết trước được rằng đầu ra của sản phẩm này sẽ như thế nào (bởi hiện nay vẫn chưa có đơn vị nào đứng ra thu mua hạt mắc ca). Theo khuyến cáo của ngành Nông nghiệp tỉnh, hiện cây mắc ca ở Dak Lak mới chỉ trồng ở dạng thử nghiệm, điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu tại nhiều khu vực trong tỉnh không phù hợp với loại cây này, nếu trồng đại trà, không theo quy hoạch của địa phương thì hiệu quả sẽ rất thấp, cây trồng kém phát triển, thậm chí chết yểu. Vì vậy, bà con nên cân nhắc kỹ, tránh đầu tư ồ ạt để rồi gánh lấy hậu quả về sau (!).
Giá cà phê
Theo Báo Đaklak

Bảo vệ thương hiệu Việt-Nói thì nhiều làm chả bao nhiêu


Tại hội thảo “Bảo vệ thương hiệu quốc gia – Những cơ cở pháp lý”, diễn ra tại TP.Hạ Long, sáng 12.8, nhiều ý kiến cho rằng, vai trò của các cơ quan quản lý còn mờ nhạt như hiện nay, thì việc bảo vệ và xây dựng thương hiệu Việt mãi sẽ chỉ dừng ở mức hô hào.
Thương hiệu cà phê Buôn Ma Thuột được bảo hộ độc quyền ở… Trung Quốc.

Chính sách nào, doanh nghiệp đó

Tiến sĩ Võ Đại Lược nhận định: Tất cả các quốc gia có những thương hiệu mạnh đều có thể chế – gồm luật pháp, bộ máy nhà nước, phương thức điều hành – rất tốt. Theo chuyên gia kinh tế này, các chính sách, cách quản lý của Việt Nam hiện nay đang dung dưỡng cho những DN làm ăn chụp giật, làm nản lòng những doanh nhân có ý chí xây dựng những thương hiệu mạnh.
Chia sẻ quan điểm này, ông Lê Phước Vũ – Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Hoa Sen – cho biết: “Các DN làm ăn chân chính hiện đang phải cạnh tranh với các DN làm ăn chụp giật, lừa người tiêu dùng. Hiện tượng này đã trở thành phổ biến, nhưng các cơ quan nhà nước bó tay. Cứ như thế khó có thể tạo ra được những thương hiệu mạnh.”
Cũng theo doanh nhân này, sản phẩm càng nổi tiếng thì càng bị làm nhái nhiều. Vấn đề này dễ hiểu, chỉ có điều khó hiểu là không thấy vai trò của các cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ sự sáng tạo và giá trị của các DN.
“Tại nhiều khu vực, các cơ sở sản xuất hàng giả ngang nhiên sản xuất Trà xanh không độ của Cty Tân Hiệp Phát chúng tôi để vận chuyển bán lên vùng sâu, vùng xa, biên giới phía bắc, nhưng tất cả các cơ quan chức năng địa phương đều làm ngơ” – ông Phạm Lê Tấn Phong – Giám đốc Trung tâm Truyền thông của Tập đoàn Tân Hiệp Phát – bức xúc.
Chia sẻ bên lề hội thảo, một doanh nhân tâm sự thật: Nhiều khi báo chí cứ nói chúng tôi làm ăn chụp giật, nhưng chính sách không ổn định, thậm chí nhiều khi cũng chụp giật, buộc chúng tôi phải chạy theo.
Không những các cơ quan chức năng chưa “mặn mà” với việc chủ động bảo vệ các DN làm ăn chân chính, mà thực tế, các DN muốn tự bảo vệ mình cũng gặp muôn vàn khó khăn, bởi việc theo kiện mất rất nhiều thời gian, tốn kém. Trong khi đó, đội ngũ thẩm phán chuyên sâu về sở hữu trí tuệ vừa thiếu và yếu. Đáng lưu ý là, sau 20 năm kể từ thời điểm Việt Nam có sự quan tâm đến việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đến nay, vẫn chưa có tòa chuyên trách xét xử các vụ vi phạm sở hữu trí tuệ.

Thương hiệu quốc gia – chủ quyền lãnh thổ “mềm”

Theo tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng – Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội – việc bảo vệ thương hiệu quốc gia cũng giống như việc bảo vệ chủ quyền của tổ quốc, bởi đó không chỉ là vấn đề kinh tế, mà còn là hình ảnh của quốc gia trong đó. Hiện nay, những thương hiệu của Việt Nam ở nước ngoài đạt tới độ “nhắc tới Việt Nam là khách hàng nghĩ ngay tới thương hiệu đó và ngược lại” còn quá ít.
Thực tế, nhiều DN cùng lắm mới chỉ quan tâm đến việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu trong nước, chứ chưa có kế hoạch đăng ký bảo hộ ở nước ngoài. Vì thế, nhiều thương hiệu Việt Nam đã bị các Cty của nước ngoài lấy mất, điển hình như: Kẹo dừa Bến Tre năm 1998, Cà phê Trung Nguyên năm 2000, Petro Vietnam năm 2002, và gần đây nhất là Cà phê Buôn Ma Thuột… Hậu quả là, các DN Việt Nam hoặc là chỉ xuất hàng thô, hoặc phải thông qua Cty thứ ba; còn vẫn mang thương hiệu của mình thì sản phẩm xuất khẩu đó sẽ bị coi là hàng giả, hàng nhái.
“Tính cộng đồng của các ban ngành, các doanh nghiệp Việt Nam là rất yếu, hầu như chưa hợp tác được gì đáng kể. Vì thế, các chiến lược phát triển của mỗi ngành, mỗi đơn vị, doanh nghiệp thường thiếu tính liên kết” – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh Đặng Huy Hậu – nhận xét, từ kinh nghiệm của địa phương mình.
Trong khi đó, thị hiếu tiêu dùng ngày càng lệch lạc, có phần cổ súy cho hàng nhái và vẫn còn mang nặng tâm lý sính ngoại. “Không chiếm lĩnh được thị trường nội địa thì khó vươn ra tầm quốc tế. Ngoài sự nỗ lực của các doanh nghiệp, Nhà nước cần phải có giải pháp tổng thể về giáo dục, đào tạo, truyền thông, giải trí, tuyên truyền để tạo nên một văn hóa tiêu dùng thông minh, lành mạnh và có chiến lược” – Đặng Lê Nguyên Vũ – ông chủ của thương hiệu Cà phê Trung Nguyên – kiến nghị.
Giá cà phê
Theo Báo Lao Động

Vì sao doanh nghiệp cà phê lép vế ngay sân nhà


Tại hội thảo chuyên đề “Ngành cà phê: cơ hội nào cho các nhà đầu tư” vừa mới diễn ra, ông Đoàn Triệu Nhạn, cố vấn cao cấp của Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (Vicofa) cho biết, năm nay cả nước có 570,9 nghìn ha cà phê, trong đó 533,8 nghìn ha cho thu hoạch.

Ước tính tổng sản lượng cà phê niên vụ 2011/2012 đạt 1,168 triệu tấn. So với niên vụ 2010/2011 , diện tích canh tác tăng 3% và sản lượng tăng 6%. Giá xuất khẩu cà phê năm qua đã tăng kỷ lục, đạt mức giá bình quân tới 2.172 USD/tấn, tăng 45% so với năm 2010.

Theo ông Trần Công Thắng, chuyên gia phân tích ngành hàng cà phê của Trung tâm thông tin nông nghiệp (Agroinfo), dự báo diễn biến giá cà phê trên thị trường thế giới năm 2012 nổi lên 2 kịch bản đáng chú ý.

Kịch bản theo dự báo của Commerzbank, biểu đồ giá cà phê sẽ giảm dần trong các tháng, nhưng không giảm sâu. Còn theo kịch bản của Standard Chartered, giá cà phê sẽ trồi sụt rất mạnh trong năm nay, tăng mạnh vào giữa năm và rớt giá mạnh vào cuối năm.

Ông Thắng cho biết, Agroinfo dự báo giá cà phê xuất khẩu bình quân của Việt Nam năm 2012 sẽ giảm 15-20% so với năm 2011. Vicofa dự báo kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sẽ giảm ít nhất 15% so với năm trước.

Ông Nguyễn Văn An, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn Thái Hòa nhận định, năm ngoái khối doanh nghiệp nước ngoài thu mua hơn 54% khối lượng cà phê và chèn ép các doanh nghiệp trong nước, gây nhiễu loạn thị trường. Năm 2012 này, các doanh nghiệp nước ngoài cạn vốn do khủng hoảng nợ công châu Âu nên họ sẽ không còn sức mạnh để tranh mua với doanh nghiệp trong nước.

Tuy nhiên, nếu chính sách thắt chặt tiền tệ vẫn  được thực thi và lãi suất vay ngân hàng cao thì doanh nghiệp trong nước vẫn yếu thế.

Ông An cũng nhận định, vụ thu hoạch cà phê năm nay chỉ còn 2 tháng nữa là kết thúc, đến thời điểm này nông dân mới bán 40% khối lượng cà phê thu hoạch, còn 60% họ chờ khi nào được giá mới bán, tránh bán ra ồ ạt là điều rất đáng mừng.

Ông Phạm  Khánh Hiệp, chuyên gia phân tích cho biết, cả nước hiện có 140 doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu cà phê, trong đó có 12 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Trong số 50 doanh nghiệp lớn nhất thì 12 doanh nghiệp FDI xuất khẩu 380 nghìn tấn, 38 doanh nghiệp trong nước xuất 790 nghìn tấn; 90 doanh nghiệp còn lại chỉ xuất chừng 30 nghìn tấn.

Doanh nghiệp trong nước luôn yếu thế hơn so với doanh nghiệp FDI. Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài kinh doanh trực tiếp với các thương nhân rang xay cà phê trên sàn giao dịch, họ có hệ thống các chi nhánh trên cả nước để thu mua sản phẩm đến từng hộ nông dân. Họ cũng nắm bắt tốt hơn những diễn biến trên thị trường, nên luôn đưa ra được chiến lược kinh doanh hợp lý hơn.

Hiện nay các doanh nghiệp trong nước không có được những thông tin chuyên nghiệp nên khó có chiến lược kinh doanh tốt, hoạt động thu mua phải qua nhiều khâu trung gian.

Bên cạnh đó, phần lớn nguồn vốn thu mua cà phê của các doanh nghiệp trong nước đều phải vay ngân hàng, trong khi hệ thống ngân hàng chưa hiểu được phương thức kinh doanh thị trường của ngành hàng cà phê. Khi cà phê có cơ hội đầu tư lãi cao, thì các ngân hàng cũng không tăng cường rót vốn cho doanh nghiệp.

Cơ chế cho vay vốn hiện nay cũng không hợp lý, ngân hàng luôn đòi hỏi doanh nghiệp có hợp đồng xuất khẩu thì mới cho vay. Dẫn đến, các doanh nghiệp buộc phải ký hợp đồng giao sau, giao xa rồi vay vốn ngân hàng mới có tiền để thu mua cà phê.

Với cơ chế này, doanh nghiệp lâm vào tình thế “một cổ 2 tròng”: vay ngân hàng thì phải trả lãi, đối tác mua hàng đã chốt giá trước nên doanh nghiệp xuất khẩu chịu rủi ro rất lớn.

Theo bà Trần Thị Quỳnh Chi (Viện Ipsard), hiện có 561 nghìn hộ (2,6 triệu lao động) đang trồng cà phê tại Tây Nguyên, trong đó 90% số hộ có quy mô canh tác nhỏ hơn 1 ha. Do sản xuất riêng lẻ nên chất lượng sản phẩm, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, khả năng mặc cả đều kém, chi phí sản xuất cao.

Hệ thống tiêu thụ bao gồm hàng nghìn nhà buôn nhỏ, công ty sơ chế, tuy họ thu mua trực tiếp và linh hoạt nhưng do lợi nhuận thấp nên thường xuyên bóp méo thị trường. Vicofa là tổ chức lớn nhất đại diện cho ngành hàng cà phê, nhưng lại không có đại diện là nông dân.

Hiện nay, Viện Ipsard và Cục Trồng trọt đang phối hợp xây dựng chiến lược quốc gia cho ngành hàng cà phê Việt Nam. Ông Nguyễn Trí Ngọc, Cục trưởng Cục Trồng trọt cho biết, Chiến lược phát triển bền vững ngành hàng cà phê Việt Nam hướng tới 8 nhóm giải pháp chính: phát triển thể chế, sản xuất bền vững, cải thiện các hoạt động nghiên cứu thị trường, marketing tiêu thụ nội địa, giám sát cung cầu, hỗ trợ xã hội, cải thiện tiếp cận tài chính.

Theo Cục trưởng Ngọc, cần phải thống nhất tổ chức điều phối ngành hàng cà phê, kết nối các hiệp hội, tổ chức nông dân có liên quan nhằm thống nhất các kế hoạch đầu tư, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn ngành. Bên cạnh Vicofa cần có thêm Hiệp hội thương lái và Hiệp hội các nhà chế biến rang xay cà phê để cải thiện các dịch vụ và liên kết thị trường.

Các hiệp hội này phải cung cấp thông tin cho các thành viên về kế hoạch mua hàng, điều kiện mua hàng; tổ chức đại lý nhằm đầu tư và thu mua cà phê; chỉ đạo sản xuất cà phê theo phương thức bền vững.

(Theo Vneconomy)


Doanh nghiệp cà phê nội địa thua do chính sách


Việc hàng loạt doanh nghiệp cà phê bị quật ngã trong thời gian gần đây đã phơi bày những điểm yếu, trong đó có một phần trách nhiệm của quản lý nhà nước.
Mỗi năm, Việt Nam xuất khẩu trên 1,2 triệu tấn cà phê nhân nhưng năm cao nhất kim ngạch cũng chỉ đạt 2,4 tỷ USD, do 90% sản lượng chế biến kém, giá rẻ. Năm 2007, nhằm vươn tới phân khúc cà phê giá trị cao hơn, Chính phủ ban hành Nghị định 23/CP-NĐ để khuyến khích doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (FDI) kinh doanh cà phê tại Việt Nam với điều kiện không thu mua trực tiếp từ nông dân mà chỉ đầu tư chế biến sâu.
Nhưng phần lớn doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực cà phê không kinh doanh đúng quy định. Với lợi thế về vốn lớn, lãi suất thấp (chỉ 3,5 – 4,5%/năm), Doanh nghiệp FDI chủ yếu hoạt động đầu cơ buôn cà phê nhân với nhiều kiểu vượt rào Nghị định 23/CP-NĐ bằng cách thông qua các công ty TNHH trong nước. Sự không thống nhất về chính sách đã tạo cơ hội cho các doanh nghiệp FDI lách luật: Nghị định 23/CP-NĐ cấm Doanh nghiệp FDI mua hàng trực tiếp từ người nông dân, còn Luật Đầu tư thì không.
Ngoài ra, Doanh nghiệp cà phê trong nước chưa có khả năng bán hàng trực tiếp cho các nhà rang xay cà phê quốc tế nên buộc phải thông qua trung gian, đội thêm chi phí. Trong khi đó, Doanh nghiệp FDI không phải thông qua môi giới nên có thu mua với giá cao hơn và dễ dàng nắm được nguồn nguyên liệu.
Khi đã loại được các đối thủ nội địa, Doanh nghiệp FDI sẽ quay lại chi phối thị trường và tất nhiên giá mua sẽ do họ quyết định, khi đó người nông dân còn có lựa chọn nào khác hay không, khi bị ép giá?
Trước đây, Doanh nghiệp trong nước nắm 80% lượng cà phê xuất khẩu nhưng hiện nay chỉ còn 60%. Niên vụ 2010 – 2011, tại Đăk Lăk, Doanh nghiệp FDI thu mua và xuất khẩu hơn 180.000 tấn cà phê nhân. Tại Lâm Đồng, DN FDI thâu tóm phần lớn sản lượng cà phê 35.000 tấn/năm của tỉnh.
Lãnh đạo của Vinacafe Buôn Ma Thuột cho biết, mọi năm thu mua được từ 60 – 80 nghìn tấn cà phê nhân, còn giờ cố lắm cũng mua được chưa tới 20 nghìn tấn.
Thất bại của DN trong nước là vì dự đoán sai nhưng đói vốn, lãi suất quá cao, đặc biệt là thiếu quản lý hiệu quả của nhà nước, đã tạo điều kiện cho DN FDI nắm giữ thị trường nguyên liệu, đẩy DN trong nước vào cảnh lao đao. Trong khi đó, tại Brazil, Indonesia, chính phủ tích cực bảo vệ nguồn nguyên liệu cà phê trong nước với các chính sách bảo hộ và ưu đãi cho DN nội địa.
Giá cà phê
Theo Báo CôngThương

Một loạt dự báo u ám về sản lượng cà phê của Việt Nam


Sản lượng cà phê của Việt Nam có thể giảm 10% trong niên vụ 2012-2013 do cành cũ trên cây cà phê bị tỉa bớt. Trong niên vụ 2011-2012, Việt Nam đã đạt sản lượng cà phê cao kỷ lục.
Dự báo trên là kết quả một cuộc thăm dò mà hãng tin tài chính Bloomberg tiến hành với các thương nhân, người trồng cà phê và các công ty xuất khẩu nông sản này. Việt Nam hiện là nước sản xuất cà phê robusta lớn nhất thế giới.
Kết quả cuộc thăm dò cho thấy, sản lượng cà phê của Việt Nam trong niên vụ tới có thể giảm còn 1,3 triệu tấn so với mức 1,45 triệu tấn của niên vụ hiện tại. Niên vụ cà phê 2012-2013 của Việt Nam sẽ bắt đầu vào tháng 10 năm nay.
Mức dự báo giảm về sản lượng cà phê của Việt Nam củng cố thêm những đồn đoán cho rằng, nguồn cung cà phê robusta trên thế giới sẽ hạn hẹp trong năm sau trong bối cảnh nhu cầu gia tăng. Sản lượng cà phê robusta toàn cầu được công ty CoffeeNetwork dự báo sẽ chỉ cao hơn 500.000 bao (loại 60 kg) so với nhu cầu trong niên vụ tới. Hồi tháng 7 vừa qua, quỹ Holland Capital có trụ sở ở London đưa ra dự báo, nhu cầu cà phê robusta trong niên vụ hiện tại đã tăng thêm 5,5 triệu bao.
“Sau một vụ cà phê được mùa như niên vụ này, cành cà phê trở nên yếu đi, nên người ta cắt những cành cũ để cành mới mọc ra. Những cành mới sẽ không đủ khỏe để mang nhiều quả, nên sản lượng có thể sẽ giảm”, ông Lê Tiến Hùng, Phó tổng giám đốc Công ty Xuất nhập khẩu 2-9 có trụ sở ở Đắc Lắc, cho biết.
Kết thúc phiên giao dịch hôm qua (6/8) tại sàn NYSE Liffe ở London, giá cà phê robusta giao tháng 11 tăng 14 USD so với phiên liền trước, tương đương tăng 0,6%, đạt mức 2.215 USD/tấn. Từ đầu năm đến nay, giá cà phê robusta tại sàn giao dịch này đã tăng 23% do các hãng rang xay tăng tỷ lệ cà phê robusta trong các sản phẩm cà phê, giảm tỷ lệ cà phê arabica đắt tiền hơn.
Đó là lý do vì sao, giá cà phê arabica đã giảm khoảng 23% kể từ đầu năm. Giá cà phê arabica giao tháng 9 trên sàn ICE ở New York chốt phiên hôm qua với mức tăng 1,7 cent, tương đương tăng 1%, lên 1,7550 USD/pound.
Trong báo cáo hàng tháng công bố cách đây ít ngày, Tổ chức Cà phê Thế giới (ICO) nhận định, nhu cầu đối với cà phê giá rẻ hơn đang gia tăng. Dẫn chứng mà ICO đưa ra là lượng giao hàng cà phê robusta cao kỷ lục và mức giá đi lên. Lượng xuất khẩu cà phê robusta của thế giới trong thời gian từ tháng 10 năm ngoái đến tháng 6 năm nay đã tăng 11% so với cùng kỳ năm trước, lên 31,7 triệu bao.
Không chỉ có cuộc thăm dò của Bloomberg mà nhiều tổ chức dự báo khác cũng nhận định sản lượng cà phê của Việt Nam sẽ giảm trong niên vụ sắp tới.
Tháng trước, công ty Nedcoffee BV có trụ sở ở Amsterdam, Hà Lan, nhận định, sản lượng cà phê niên vụ 2012-2013 của Việt Nam có thể thấp hơn từ 5-7% so với niên vụ trước. Hồi tháng 6, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê và Ca cao Việt Nam (Vicofa) Lương Văn Tự phát biểu, sản lượng cà phê của niên vụ 2012-2013 có thể giảm 15% do hoa cà phê nở sớm bị rụng mà không đậu quả.
Chuyên gia phân tích thị trường hàng hóa cơ bản Keith Flury thuộc ngân hàng Rabobank cho rằng, nguồn cung cà phê robusta trên thế giới đang hạn hẹp. “Lượng cà phê tồn kho đang tiếp tục giảm, mà nhu cầu lại vượt quá kỳ vọng của thị trường”, bà Flury nhận xét.
Tuy nhiên, Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) lại dự báo sản lượng cà phê của Việt Nam sẽ tăng trong niên vụ tới. USDA cho rằng, sản lượng cà phê robusta ở niên vụ 2011-2012 của Việt Nam sẽ đạt mức 21 triệu bao (1,26 triệu tấn), còn sản lượng ở niên vụ 2012-2013 sẽ đạt mức 22,4 triệu bao.
Hôm 26/7 vừa qua, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tuyên bố, sản lượng cà phê robusta của Việt Nam có thể giảm 16% xuống còn 1,08 triệu tấn vào năm 2015 do cây cà phê già cỗi bị chặt hạ để trồng cây mới thay thế. Ngoài ra, diện tích trồng cà phê robusta cũng sẽ được thu hẹp để nhường chỗ cho các loại cây trồng khác.
Giá cà phê
Theo VNEconomy

Về giá cà phê


Trước khi đi vào buổi buôn chuyện giá cà phê cuối tuần hôm nay, chúng ta hãy lướt qua các con số mà đến nay không còn là dự báo nữa mà đã là con số thống kê từ thực tế của các cơ quan đáng tin cậy:
1)    Cách đây 1 năm vào tháng 6/2011, USDA đã đưa ra dự báo kể từ vụ mới (tính từ 1/10/2011) sản lượng của Việt nam vụ 2011/2012 sẽ vào khoảng 20,6 triệu bao tức là tăng khoảng 10% so với vụ cũ.
2)    Vào khoảng đầu tháng 5/2012 Tổ chức cà phê thế giới (ICO) đưa ra con số thống kê hàng xuất tới cảng đến của các nước mà trong đó Việt nam có con số xuất từ tháng 5/2011 cho đến tháng 4/2012 là 19,425 triệu bao, nếu cộng thêm số xuất của Việt nam trong tháng 5/2012 là 150.000 tấn (2,5 triệu bao) cho vừa tròn lượng xuất của một năm, cộng với lượng tiêu thụ nội địa khoản 1,1 triệu bao. Cộng tất cả lại thì con số tiêu thụ gần như chính xác đã là 23 triệu bao, trên cả con số của USDA đã dự báo trước đây.
thongkeICO Buôn chuyện giá cà phê cuối tuần
3)    Từ trước đến nay cứ vào khoảng tháng 2 hàng năm hay trễ hơn một chút, thì các nhà máy thu mua cà phê bắt đầu quét dọn kiểm hàng sau một vụ hoạt động ngày đêm căng thẳng, thế nhưng hiện nay, đã là đầu tháng 6, mà cà phê vẫn cứ còn nhập vào kho.
Bây giờ chúng ta hãy bắt đầu buôn chuyện, nhưng cần nhớ, dẫu buôn thế nào, cũng xin đừng đi quá xa với những con số mà chúng ta đang có trong tay.
Hãy tưởng tượng, nếu như tất cả nông dân đều ồ ạt bán ra như hàng năm chúng ta vẫn làm thì với số lượng 23 triệu bao, chứ không phải chỉ là 20,6 triệu bao như USDA tưởng là đã cao rồi ấy, thì giá trong tết vừa qua có khi đã chạm đáy.
Cho dù với lượng xuất lớn như thế nhưng cho đến nay lượng tồn kho Cert Liffe NYSE chưa có gì là thực sự chuyển biến, trong khi người Việt nam dường như đang trong giai đoạn bán ra những hạt cà phê cuối cùng của mình.
Cứ mỗi khi USDA nâng cao dự báo thì y như rằng Cộng đồng Y5Cafe chuẩn bị gởi công hàm phản đối tới Tổng thống Obama vì để cho Bộ NN Hoa Kỳ nói sai làm ảnh hưởng đến giá cà phê thị trường Việt nam, thật sự bản thân tôi chưa bao giờ tin vào dự báo sản lượng của USDA cả, chẳng hạn như năm nay họ cũng dự báo sản lượng tăng là đang sai so với quan sát thực tế và những diễn biến thời tiết quái lạ, trong khi năm ngoái họ dự báo sản lượng tăng chỉ 10% thì quá ít.
Hiện trạng hoa cà phê bị thối rữa, không đậu quả sau những cơn mưa chẳng ai mong đợi trong thời gian qua không chỉ diễn ra cục bộ từng vùng, mà hầu hết các tỉnh Tây Nguyên, cộng với sản lượng vụ 2011/2012 quá cao cho nên vụ thu 2012/2013 gần như chắc chắn sẽ bị sụt giảm, nếu không nói là rất đáng kể.
Vì công việc đòi hỏi, cho nên tôi phải đi hầu hết các vùng sản xuất cà phê của Việt nam và nhận thấy một tình hình chung hiện nay là cây rất tốt, nhưng quả thì rất ít, các cuộc phỏng vấn nông dân đều cho một ý kiến gần như giống nhau, ngược lại năm ngoái, khi tiếp xúc với bà con Nông dân cũng như thông qua các đại lý, nhà máy thu mua cho biết họ được mùa rất lớn, nếu vụ thu vào cuối năm nay đúng với những gì tôi đang nhận định, có khả năng tôi nên kiêm thêm nghề bán tin dự báo.
Bây giờ chúng ta buôn đến diễn biến giá trong thời gian qua, tuy nhiên trước hết có lẽ nên nhìn qua đồ thị từ cuối tháng 3/2012 đến cuối tháng 5/2012, chúng ta sẽ thấy một giai đoạn giá thấp lè tè để rồi bộc phát chỉ có một con đường đi lên từ ngày 8/5
Dothi Buôn chuyện giá cà phê cuối tuần
Những người hôm nay bán được giá cao, cần nói lời cảm ơn những người đã bán ra trong giai đoạn trước đó, bởi vì nếu không có sự bán ra bớt của những người không thể cầm cự lâu hơn, thì làm sao có được cái giá của tháng 5, nhưng điều quan trọng mà tôi muốn nhấn mạnh ở đây là sự kềm hãm giá cả của giới đầu cơ
Khi thì dự báo Rabo
Lúc thì sản lượng cà rô chất đầy
Nhằm phục vụ cho sự mua vào ở giá mô, giá gò và bán ra ở mức giá đồi giá núi như quý vị đang thấy trên đồ thị biểu diễn.
Đó là đặc tính của thị trường, những cơn sóng chẳng thiên vị ai mà cũng chẳng bạc ác với ai, người khéo lướt sóng thì chọn được vị trí lúc nào cũng đứng trên đỉnh của sóng, người chiến thắng là người lướt được vào bờ mà còn tấm ván với nụ cười tươi.
Theo tôi, những ngày sắp tới sẽ là những giá mô, giá gò, người Nông dân cần bình tĩnh sáng suốt để nhận định, chọn sóng mà nương theo khi nó trông như giá đồi giá núi.
Xem chừng như vẫn còn một cơ hội cuối cùng để giải phóng lượng hàng từ đây cho đến ngày có sản lượng mới của Brazil và sau đó là của Việt nam, có lẽ đó sẽ là thời điểm tháng 7 đến chăng?
Dẫu thế nào thì cũng xin xem đây chỉ là một bài buôn chuyện cuối tuần để bà con ta bàn luận cho vui, chẳng nên lấy làm đó làm định hướng hay dự báo gì cho việc kinh doanh của mình.
Nguồn: giacaphe.com