Xuất khẩu cà phê: Nâng “chất” nhờ chế biến?
Là một trong những quốc gia đứng “top” đầu về sản xuất, xuất khẩu cà phê nhưng có tới 95% sản phẩm XK của Việt Nam là cà phê nhân, tỉ lệ rất nhỏ còn lại là cà phê đã qua chế biến. Thực tế này dẫn tới lợi nhuận thu về chưa tương xứng với lượng hàng xuất đi.
Xuất nhiều, lợi ít
Việt Nam là quốc gia đứng đầu thế giới về sản xuất và xuất khẩu
cà phê vối
(robusta) và đứng thứ hai thế giới về sản xuất và xuất khẩu cà phê nhân
(chỉ sau Brazil). Có thể khẳng định, trong hơn một thập niên qua, sản
xuất cà phê của Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng cao cả về diện tích,
năng suất cũng như sản lượng. Bằng chứng là năm 2012, sản lượng cà phê
nhân của Việt Nam đã đạt 1,3 triệu tấn, gấp 14 lần so với năm 1990, kim
ngạch XK cũng chạm mức 2,7 tỷ USD, gấp hơn 29 lần so với năm 1990.

Dự báo, kim ngạch XK cà phê đến năm 2020 đạt ổn định 3,5 tỷ USD/năm
Tuy nhiên, dễ dàng nhận thấy, ngành sản xuất, xuất khẩu cà phê Việt
Nam đang tồn tại nghịch lý lớn là cho đến nay, Việt Nam chủ yếu là cà
phê nhân với tỷ lệ lên tới 95% tổng sản lượng, trong khi
xuất khẩu cà phê đã qua chế biến chỉ chiếm 5%. Đáng lưu ý là giá trị một đơn vị cà phê qua chế biến cao hơn cà phê nhân tới 3 lần.
Ông Nguyễn Trọng Thừa, Cục trưởng Cục Chế biến nông lâm thủy sản và
nghề muối (Bộ NN&PTNT) cho biết, kết quả này một phần là bởi hiện
nay
ngành cà phê Việt Nam
có hệ thống chế biến, bảo quản tăng mạnh về số lượng nhưng còn yếu kém,
phát triển chưa cân đối. Tổng công suất thực tế chế biến cà phê nhân,
cà phê bột và kho bảo quản đạt thấp so với công suất thiết kế gây lãng
phí lớn vốn đầu tư. Thậm chí, trong năm 2011, 2012 đã có một số DN phải
tạm dừng hoạt động và có nguy cơ phá sản.
“Điểm yếu lớn trong ngành cà phê còn là các khâu sản xuất, chế biến,
bảo quản sản phẩm cà phê chưa gắn kết với nhau, liên kết giữa nhà nông
và nhà DN còn lỏng lẻo. Các DN chế biến XK chủ yếu hoạt động thương mại
thuần túy, ít gắn với sản xuất cà phê. Phần lớn sản lượng cà phê bột
được chế biến ở các cơ sở nhỏ, chất lượng không cao nên khó mở rộng thị
trường tiêu thụ”, ông Nguyễn Trọng Thừa nói.
Theo
Tổ chức Cà phê Quốc tế
(ICO), tiêu thụ cà phê toàn cầu đã tăng liên tục trong vòng 40 năm qua
với tốc độ tăng bình quân 1,6%/năm. Tiêu thụ cà phê toàn cầu sẽ tiếp tục
tăng và mức tăng cao hơn so với sản xuất nên giá cà phê sẽ được duy trì
ở mức trên 2.000 USD/tấn.
Hiện nay, Bộ NN&PTNT đã giao cho Cục Chế biến nông lâm thủy sản
và nghề muối xây dựng, hoàn thiện Dự thảo “Quy hoạch hệ thống chế biến,
bảo quản cà phê gắn với sản xuất và XK đến năm 2020, định hướng 2030”.
Trong dự thảo, các chuyên gia trong ngành đưa ra nhận định giai đoạn từ
nay tới năm 2020, định hướng xuất khẩu cà phê nhân Việt Nam là tiếp tục
duy trì và giữ ổn định thị trường cà phê Việt Nam đã XK đến 80 quốc gia,
đặc biệt là 10 nước NK nhiều cà phê nhân là: Hoa Kỳ, Đức, Bỉ, Italia,
Tây Ban Nha, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hà Lan, Anh và Trung Quốc. Tuy nhiên,
vấn đề nổi cộm nhất trong xuất khẩu cà phê nhân chính là chất lượng phải
được cải thiện và thực hiện đúng theo chương trình nâng cao
chất lượng cà phê
của ICO. Đồng thời, để XK đạt kết quả phải có DN đủ mạnh (nhóm 20 DN
xuất khẩu cà phê – G20) được điều hành bởi đội ngũ các doanh nhân giàu
kinh nghiệm và hiểu biết về hệ thống giao dịch cà phê trên thị trường
thế giới.
Đối với cà phê tiêu dùng, tiềm năng XK sẽ mở ra đối với các DN Việt
Nam nếu sản phẩm cà phê được chế biến bởi dây chuyền thiết bị công nghệ
hiện đại, đạt tiêu chuẩn chất lượng cao và có chiến lược mở rộng thị
trường khoa học mang tính khả thi cao.
Theo ông Nguyễn Trọng Thừa, trong dự thảo, Cục Chế biến nông lâm thủy
sản và nghề muối cũng đã chỉ ra những giải pháp “căn cơ” để từng bước
tăng giá trị xuất khẩu cà phê Việt Nam. Đó là sẽ xây dựng vùng sản xuất
cà phê chất lượng cao và có chứng nhận làm nguyên liệu phục vụ cho chế
biến. Cách tốt nhất là từng DN chế biến, bảo quản cà phê phải kết hợp
với địa phương tìm vùng sản xuất cà phê nguyên liệu ổn định và lâu dài,
từ đó đầu tư và ký hợp đồng thu mua sản phẩm. Sản phẩm cà phê nhân hoặc
sau này chế biến thành cà phê tiêu dùng có thể dễ dàng truy nguyên nguồn
gốc.
Bên cạnh đó, ngành cà phê cần tăng cường hoạt động xúc tiến thương
mại, mở rộng thị trường, đồng thời nhanh chóng cải thiện phương thức mua
bán cà phê nhân qua sàn giao dịch với giá có lợi cho DN Việt Nam.
Ngoài ra, các chủ DN đã đầu tư các nhà máy chế biến cà phê nhân phải
đánh giá lại dây chuyền thiết bị công nghệ, xây dựng phương án sản xuất
kinh doanh trên cơ sở chuẩn bị được vốn thu mua cà phê nhân và hợp tác
liên kết tiêu thụ cà phê nhân XK một cách hợp lý. Những nhà máy, kho bảo
quản không hiệu quả thì xem xét chuyển đổi công năng hoặc thực hiện hợp
đồng bảo quản cà phê cho các DN khác nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng
kho nhằm tránh lãng phí vốn đầu tư…
Theo Dự thảo “Quy hoạch hệ thống chế biến, bảo quản cà phê
gắn với sản xuất và XK đến năm 2020, định hướng 2030”: Dự báo, kim
ngạch xuất khẩu cà phê đến năm 2020 đạt ổn định 3,5 tỷ USD/năm, định
hướng đến 2030 đạt 4 – 4,5 tỷ USD/năm. 100% sản phẩm cà phê qua chế biến
đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn chất lượng quốc gia, quốc tế về đảm bảo vệ
sinh an toàn thực phẩm. Tỷ lệ cà phê nhân được chế biến ở quy mô công
nghiệp đạt 40% vào năm 2015; đạt 70% đến năm 2020 và trên 80% đến năm
2030. Đến năm 2020, tỷ lệ cà phê tiêu dùng (cà phê chế biến sâu: cà phê
rang xay, cà phê hoà tan) đạt 25% tổng sản lượng cà phê nhân.
Về việc phân bố các cơ sở chế biến bảo quản cà phê theo vùng kinh tế,
dự kiến đến năm 2020 sẽ tập trung phát triển chế biến cà phê hòa tan ở
các vùng chính gồm: Tây Nguyên, Đông Nam bộ và ĐBSCL, tổng công suất
thiết kế đến năm 2020: 55.000 tấn sản phẩm/năm. Khuyến khích các DN sản
xuất phối trộn cà phê 3 trong 1 vì vấn đề đầu tư dây chuyền thiết bị
tương đối thấp, nhu cầu thị trường lớn.
Tags:
THỊ TRƯỜNG CÀ PHÊ VIỆT NAM